Stress là trạng thái căng thẳng về tinh thần, kèm theo những phản ứng của cơ thể, khi một người phải đối mặt với tình huống khó khăn hoặc sức ép vượt quá mức quen thuộc. Hỏi stress nghĩa là gì trong tiếng Việt thì từ gần nhất là “căng thẳng”. Còn nếu hỏi stress là cái gì mà ai cũng than, thì đó là cách cơ thể bật chế độ báo động để đối phó, và chính chế độ ấy, khi kéo dài, mới sinh chuyện.
| Nghĩa ngắn | Căng thẳng tinh thần và thể chất trước một sức ép |
| Gốc từ | Tiếng Anh stress: sức ép, áp lực; vốn cũng là thuật ngữ vật lí (ứng suất) |
| Loại từ | Danh từ, người Việt dùng cả như tính từ: “dạo này stress quá” |
| Sắc thái | Trung tính; trong lời nói hằng ngày thường mang ý than mệt |

Stress được WHO và các nhà tâm lý định nghĩa ra sao?
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mô tả stress là trạng thái lo lắng hoặc căng thẳng tinh thần sinh ra từ một hoàn cảnh khó khăn. WHO nhấn mạnh đây là phản ứng tự nhiên của con người, thứ thúc ta xử lí thách thức và mối đe dọa. Một chút stress có ích; quá nhiều thì bắt đầu gây hại cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) nói theo hướng hơi khác: stress là phản ứng của thân thể hoặc tâm trí trước một tác nhân bên ngoài, gọi là stressor. Tác nhân ấy có thể chỉ xuất hiện một lần, như buổi thi vấn đáp, hoặc lặp lại dài ngày, như chuyện bố mẹ bất hòa. Ghép hai cách hiểu lại, ta có ba ý cốt lõi: có một sức ép, có phản ứng của cả thân lẫn tâm, và phản ứng ấy vốn để giúp ta thích nghi.
Người hay được nhắc tới khi kể lịch sử khái niệm này là nhà nội tiết học Hans Selye. Từ thập niên 1930 ông đã công bố các nghiên cứu về phản ứng của cơ thể trước tác nhân gây hại, mô tả nó qua ba giai đoạn báo động, chống đỡ và cạn kiệt mà ông gọi là hội chứng thích nghi chung.
Eustress và distress: khi áp lực đẩy ta lên, khi nó kéo ta xuống
Cũng chính Selye về sau tách stress làm hai mặt. Eustress (tiền tố Hi Lạp eu- nghĩa là “tốt”) là sức ép mang tính thử thách, khiến người ta tỉnh táo và cố gắng hơn. Distress là phía gây hại, làm ta rối, mệt và mất sức. Điều thú vị là cùng một sự việc có thể rơi vào ô này hay ô kia, tùy người trong cuộc nhìn nó là cơ hội hay là mối đe dọa.
Lấy kì thi học sinh giỏi làm ví dụ. Bạn A thấy hồi hộp, ôn bài say sưa, đêm trước thi vẫn ngủ được: đó là thứ áp lực vừa đủ để kéo mình lên. Bạn B cũng thi kì ấy nhưng mất ngủ cả tuần, đọc đề nào cũng thấy mình dốt: sức ép đã chuyển sang mặt tiêu cực. NIMH cũng nêu đúng cặp ví dụ này, stress có thể giúp ta kịp hạn chót, nhưng cũng có thể lấy đi giấc ngủ. Thế nên khi bàn về quan niệm áp lực làm nên kim cương, điều đáng hỏi không phải là có áp lực hay không, mà là áp lực bao nhiêu và kéo dài bao lâu.
Cơ thể và tâm trạng báo hiệu thế nào khi đang căng?
Stress không có một dấu hiệu duy nhất. Mỗi người “kêu” theo một kiểu, nhưng có mấy nhóm biểu hiện đời thường hay gặp:
- Về thân thể: tim đập nhanh, vai gáy cứng, đau đầu, đau bụng trước giờ kiểm tra, ăn uống thất thường, trằn trọc khó ngủ.
- Về cảm xúc: dễ cáu với người nhà, hay lo vu vơ, thấy mọi thứ dồn lên cùng lúc.
- Về suy nghĩ: khó tập trung, đọc ba lần một trang sách vẫn không vào, hay quên đồ.
- Về hành vi: lướt điện thoại hàng giờ để trốn việc, bỏ bữa, ngại gặp bạn.
Phần lớn các biểu hiện ấy dịu đi khi sức ép qua đi: thi xong, nộp xong bài, làm lành với bạn. Danh sách trên chỉ để tự quan sát chứ không dùng để chẩn đoán, vì nhiều dấu hiệu trùng với lo âu, trầm cảm hay bệnh thể chất. Nếu căng thẳng kéo dài nhiều tuần, làm xáo trộn việc ăn ngủ, học hành, hoặc bạn thấy không tự xoay xở được nữa, hãy nói với bố mẹ, thầy cô và tìm gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý để được hỗ trợ đúng cách.
Từ phòng thi tới bảng tin: những nguồn gây áp lực của tuổi học trò
Với học sinh, tác nhân quen mặt nhất là học tập: lịch học thêm kín tuần, đề cương dày, những kì thi chuyển cấp mang tiếng “một lần quyết định”. Kì vọng của gia đình cũng nặng không kém, nhất là khi điểm số được đem ra so với con nhà hàng xóm.
Rồi đến các mối quan hệ: giận nhau với bạn thân, bị nói xấu trong nhóm chat, lần đầu thích ai đó. Mạng xã hội thêm một lớp nữa. Bảng tin toàn ảnh bạn bè được giải, đi du lịch, có người yêu dễ làm mình thấy tụt lại phía sau, dù đó chỉ là những lát cắt đẹp nhất được chọn để đăng.
Về tác động, stress ngắn hạn thường không đáng ngại, thậm chí giúp ta bứt tốc. Stress kéo dài lại khác. Theo WHO và NIMH, sức ép không được giải tỏa có thể kéo theo đau đầu, huyết áp tăng, mất ngủ, làm người ta dễ rơi vào lo âu hay trầm cảm. Ở trường lớp, cái giá dễ thấy là học kém đi đúng lúc cần học tốt nhất, quan hệ với bạn bè, bố mẹ cũng căng theo.
Stress, burn out hay overthinking: đặt cạnh nhau cho rõ
Ba chữ này hay bị dùng lẫn trên mạng. Thực ra chúng nói về ba chuyện khác nhau.
| Stress | Burn out | Overthinking | |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Phản ứng trước một sức ép cụ thể | Kiệt quệ sau thời gian dài căng thẳng không được giải tỏa | Thói quen nghĩ đi nghĩ lại một chuyện |
| Câu than điển hình | “Nhiều việc quá, không kịp mất!” | “Chẳng còn sức mà quan tâm nữa.” | “Lỡ nó nghĩ mình thế này thì sao…” |
| Thời gian | Thường qua khi sức ép qua | Tích tụ hàng tháng, nghỉ vài hôm chưa hết | Có thể lặp lại mỗi đêm |
Nói gọn, stress kéo dài mà không được xả có thể dẫn tới hội chứng kiệt sức nghề nghiệp, còn thói nghĩ quá nhiều về một chuyện vừa là hệ quả, vừa là thứ thổi phồng thêm căng thẳng.
Chuyện stress qua mấy câu hỏi ngắn
Stress nghĩa là gì khi dịch sang tiếng Việt?
Từ tương đương thông dụng nhất là “căng thẳng”, đôi khi là “áp lực” hoặc “căng thẳng thần kinh”. Trong từ điển Anh, stress còn có nghĩa ứng suất (vật lí) và trọng âm (ngữ âm), nhưng ở chuyện tâm lý thì chỉ dùng nghĩa căng thẳng.
Viết stress hay strees mới đúng?
Viết đúng là stress: chữ e đứng một mình, hai chữ s ở cuối. “Strees” hay “stres” đều là gõ nhầm. Khi cần viết trang trọng, như trong bài văn, có thể thay bằng “căng thẳng” cho thuần Việt.
Stress có phải là bệnh không?
Bản thân stress là phản ứng bình thường, ai cũng gặp, nên không phải bệnh. Chỉ khi căng thẳng kéo dài, dồn nén và ảnh hưởng tới sinh hoạt thì nó mới thành vấn đề sức khỏe cần người có chuyên môn xem xét.
Bị stress trước kì thi có sao không?
Hồi hộp trước kì thi là chuyện thường, nhiều khi còn giúp bạn tập trung. Ngủ đủ, chia nhỏ phần ôn, vận động nhẹ và tâm sự với người mình tin thường giúp sức ép dịu lại. Nếu lo lắng làm bạn mất ngủ triền miên hay không thể ngồi vào bàn học, đó là lúc nên nhờ người lớn giúp.
Bị stress nghĩa là gì?
Là đang rơi vào trạng thái căng thẳng: thấy áp lực vượt quá sức mình xoay xở, kèm những dấu hiệu như khó ngủ, dễ cáu, đau đầu, khó tập trung. Câu dạo này mình bị stress thường chỉ một giai đoạn mệt mỏi tạm thời. Nếu tình trạng kéo dài nhiều tuần và ảnh hưởng tới ăn ngủ, học hành, nên tìm người có chuyên môn.