Sơn hải kinh là tên một bộ sách cổ của Trung Quốc (山海經), chép về núi non, sông biển, sản vật, chim thú, các nước xa lạ và thần linh, trong đó địa lý thật đan xen với chuyện hoang đường. Sách gồm 18 thiên, không rõ tác giả, được xem là kho thần thoại cổ nhất còn giữ được của người Trung Hoa.
| Nghĩa ngắn | Sách cổ Trung Quốc ghi chép núi, biển, muông thú lạ và thần thoại |
| Tên chữ Hán | 山海經: sơn (núi) + hải (biển) + kinh (sách kinh điển) |
| Thời điểm hình thành | Soạn dần từ thời Chiến Quốc đến đầu đời Hán |
| Quy mô | 18 thiên, chia làm Sơn kinh và Hải kinh |

Sơn hải kinh là sách gì?
Gọi là sách địa lý cũng được, gọi là sách thần thoại cũng không sai, và cái khó nằm đúng ở đó. Mỗi đoạn trong sách thường mở ra bằng một quãng đường: đi tiếp về hướng nào bao nhiêu dặm thì gặp ngọn núi tên gì, trên núi có cây gì, đá gì, dưới chân có sông chảy về đâu. Rồi bỗng xuất hiện một con thú hình như dê mà chín đuôi, một con chim ba đầu sáu mắt, hay một nước mà người ở đó không có ruột.
Các học giả đời Hán đến đời Đường đọc nó như một cuốn địa chí đáng tin. Từ đời Minh, Thanh trở đi, người ta coi phần lớn nội dung là hư cấu; bộ Tứ khố toàn thư đời Thanh còn xếp sách vào loại tiểu thuyết. Học giới bây giờ vẫn chia nhiều hướng: có người coi đây là sách địa lý cổ, có người coi là kho thần thoại.
Về tác giả, người xưa từng gán sách cho vua Vũ và Bá Ích, hai nhân vật gắn với chuyện trị thủy. Giới nghiên cứu hiện đại cho rằng sách do nhiều người viết qua nhiều đời, khoảng từ thời Chiến Quốc tới đầu nhà Hán. Bản chú giải sớm nhất còn lại là của Quách Phác đời Tấn.
Ba chữ 山海經 và cách sách được chia
Chữ sơn là núi, hải là biển. Chữ kinh ở đây là sách gốc, sách được coi trọng, giống chữ kinh trong Kinh Thi, Kinh Dịch, không phải kinh để tụng niệm. Đặt tên theo núi và biển là vì sách được chia đúng theo hai mảng ấy:
- Sơn kinh (5 thiên): Nam sơn kinh, Tây sơn kinh, Bắc sơn kinh, Đông sơn kinh, Trung sơn kinh, mỗi thiên đi qua một loạt núi theo một hướng.
- Hải kinh (13 thiên): Hải ngoại kinh (4 thiên), Hải nội kinh (4 thiên), Đại hoang kinh (4 thiên) và một thiên Hải nội kinh đặt cuối.
Phần Sơn kinh chặt chẽ hơn, ghi đường đi, sản vật, lễ cúng thần núi. Phần Hải kinh lan ra những nước lạ ở bốn phương và các truyện thần, càng về sau càng kì ảo. Toàn sách nhắc tới hàng trăm ngọn núi và dòng sông.
Những tên gọi dễ lẫn với Sơn hải kinh
| Tên | Thực ra là |
|---|---|
| Sơn hào hải vị | Thành ngữ chỉ món ăn quý hiếm “của núi, của biển”; chỉ trùng chữ sơn, hải |
| Kinh trong Sơn hải kinh | Sách kinh điển, không phải kinh Phật hay kinh cầu nguyện |
| Nữ Oa (女娃) | Tên cô gái hóa thành chim Tinh Vệ trong sách; đọc trùng âm với Nữ Oa (女媧) là bà thần nặn người, vá trời |
| Sơn Tinh | Thần núi Tản Viên trong truyền thuyết Việt Nam, không có trong sách này |
Cũng nên tách Sơn hải kinh với các phim, truyện tranh, trò chơi mượn tên sách. Phần lớn chỉ lấy vài con thú lạ trong sách làm nhân vật rồi tự dựng chuyện mới. Muốn biết vì sao truyện thần trong sách được xếp vào loại thần thoại chứ không phải truyền thuyết, xem bài thần thoại khác truyền thuyết ở điểm nào.
Chim Tinh Vệ, Khoa Phụ và cáo chín đuôi
Thần thoại trong sách hiếm khi dài quá một đoạn, nhưng nhiều đoạn đã đi vào thành ngữ. Ở Bắc sơn kinh, trên núi Phát Cưu có loài chim giống quạ, đầu có vằn, mỏ trắng, chân đỏ, tiếng kêu như gọi tên mình là Tinh Vệ. Chim vốn là con gái út của Viêm Đế, tên Nữ Oa, ra biển Đông chơi rồi chết đuối không về. Từ đó chim ngày ngày ngậm cành cây, hòn đá ở núi Tây đem lấp biển Đông. Người Trung Hoa gọi việc bền chí đến cùng, dù biết khó thành, là “Tinh Vệ lấp biển”.
Ở Hải ngoại bắc kinh có chuyện Khoa Phụ chạy đuổi theo mặt trời. Khát quá, ông uống cạn sông Hoàng Hà, sông Vị vẫn không đủ, định lên phía bắc uống ở đầm lớn thì chết khát giữa đường. Cây gậy ông vứt lại hóa thành rừng Đặng Lâm. Còn con cáo chín đuôi ở núi Thanh Khâu trong Nam sơn kinh thường được nhắc tới như một trong những ghi chép sớm nhất về hình tượng hồ li chín đuôi hay gặp trong phim, truyện bây giờ.
Đặt cạnh thần thoại Việt, có thể thấy cùng một cách người xưa cắt nghĩa trời đất: núi sông do sức thần mà có, như trong truyện Thần Trụ Trời chống trời đắp đất. Điều đáng nhớ là con chim Tinh Vệ chưa bao giờ lấp xong biển, và chính vì thế mà câu chuyện còn được kể suốt hơn hai nghìn năm.
Trước khi mở Sơn hải kinh lần đầu
Sơn hải kinh có thật không?
Cuốn sách là có thật, có bản chữ Hán và nhiều bản chú giải còn truyền đến nay. Còn những gì sách kể thì lẫn lộn: có tên núi, tên sông tìm được ngoài thực địa, nhưng các loài thú lạ và nhiều nước kì quái là sản phẩm của trí tưởng tượng.
Ai là tác giả Sơn hải kinh?
Không xác định được. Lời truyền cũ gán cho vua Vũ và Bá Ích, nhưng các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng sách được nhiều người góp lại qua nhiều thế kỉ rồi mới được hiệu đính thành bản như ta có.
Sơn hải kinh có bao nhiêu thiên?
Bản hiện hành có 18 thiên: 5 thiên Sơn kinh và 13 thiên Hải kinh (gồm cả 4 thiên Đại hoang kinh và thiên Hải nội kinh cuối sách).
Sơn hải kinh có phải sách tôn giáo không?
Không hẳn. Chữ “kinh” chỉ một bộ sách cổ được coi trọng. Sách có ghi các lễ cúng thần núi và nhiều vị thần, nên được Đạo giáo và giới nghiên cứu tín ngưỡng quan tâm, nhưng bản chất là một bộ ghi chép địa lý và thần thoại.