Soạn bài Ngọ Môn (theo Lê Đình Phúc) gợi ý cách làm phần Chuẩn bị đọc, 2 câu hỏi Trải nghiệm cùng văn bản và 5 câu hỏi Suy ngẫm và phản hồi thuộc Bài 3 – chủ đề di tích lịch sử và danh thắng, sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập 1, trang 64 – 68. Trọng tâm của bài là cách một văn bản giới thiệu di tích lịch sử sắp xếp thông tin theo không gian và theo từng nhóm đối tượng.
Tìm hiểu chung về văn bản Ngọ Môn
Ngọ Môn là văn bản đọc thứ hai của Bài 3, đứng sau Vườn Quốc gia Cúc Phương. Nếu văn bản trước đưa ta vào rừng thì văn bản này hướng tới một công trình do con người dựng nên.

- Tác giả: Lê Đình Phúc. SGK ghi theo Lê Đình Phúc, nghĩa là văn bản đã được biên tập, lược bớt so với bài gốc.
- Xuất xứ: in trong sách Huế – di tích lịch sử – văn hóa – danh thắng (NXB Chính trị quốc gia, 1997).
- Kiểu văn bản: thuộc nhóm văn bản thông tin, cụ thể là bài viết về một di tích; thuyết minh là phương thức chủ đạo.
- Đối tượng: Ngọ Môn, cửa chính mặt nam dẫn vào Hoàng thành Huế, dựng năm 1833 thời vua Minh Mạng.
- Bố cục:
– Mở đầu (hai đoạn đầu): vị trí, năm xây dựng, chức năng lễ đài và sự kiện lịch sử gắn với Ngọ Môn.
– Phần chính (hai đề mục “Đặc điểm kiến trúc Ngọ Môn” và “Nét riêng trong cách trang trí Ngọ Môn”): mô tả hệ thống nền đài, lầu Ngũ Phụng và các chi tiết trang trí.
– Kết thúc (đoạn cuối): đánh giá tầm vóc, sự sáng tạo và giá trị của công trình. - Nội dung: đưa người đọc “tham quan” từng bộ phận của Ngọ Môn, thấy được tài năng của các kiến trúc sư, nghệ nhân triều Nguyễn và vị trí biểu tượng của công trình đối với cố đô.
- Nghệ thuật: nhiều số đo chính xác, nhiều thuật ngữ kiến trúc; thông tin trình bày theo phân loại kết hợp trình tự không gian; có ảnh chụp minh họa.
Chuẩn bị đọc
Câu 1: Thông tin em muốn biết khi đọc văn bản giới thiệu di tích lịch sử (trang 64)
Em muốn biết những thông tin gì khi đọc văn bản giới thiệu về một di tích lịch sử?
Trả lời: Khi đọc một văn bản như vậy, em muốn biết:
- Di tích ở đâu, được xây dựng vào thời gian nào, ai cho xây và để làm gì.
- Diện mạo kiến trúc: kích thước, kết cấu, vật liệu, cách trang trí có gì đặc biệt.
- Những sự kiện, nhân vật lịch sử từng gắn với di tích.
- Giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và sự công nhận dành cho di tích.
- Tình trạng hiện nay, cách tham quan và việc bảo tồn.
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu 1: Theo dõi – Xác định cách trình bày thông tin của đoạn văn này (trang 65)
Trả lời: Ở đoạn tả nền đài, thông tin được sắp xếp dựa vào vị trí trong không gian. Người viết đi từ cái nhìn bao quát (chiều cao, chiều dài đáy, mặt bằng chữ U, vách nền dốc đứng) vào chỗ chính giữa nền đài với ba cửa song song, rồi sang lòng hai cánh chữ U với hai lối đi kiểu đường hầm, cuối cùng dừng lại ở hình dáng từng loại cửa và hệ thống xà bằng đồng. Đọc đoạn văn, ta như đang đứng trước cổng rồi tiến lại gần quan sát từng phần.
Câu 2: Đọc quét – Tên gọi lầu Ngũ Phụng bắt nguồn từ đâu? (trang 66)
Trả lời: Lầu dùng chung một bộ khung gỗ lim, nhưng phần mái được chia thành chín bộ mái riêng với kích thước và độ cao khác nhau. Các khối mái nhấp nhô ấy trông như đàn chim phụng đang sải cánh bay, nên người dân gọi công trình là lầu Ngũ Phụng (năm con chim phụng).
Suy ngẫm và phản hồi
Câu 1: Đặc điểm của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử (trang 67)
Văn bản Ngọ Môn thể hiện những đặc điểm nào của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử? Dựa vào đâu mà em có thể xác định như vậy?
Trả lời:
- Mục đích: đem đến những hiểu biết khách quan về một công trình có giá trị lịch sử (Ngọ Môn), không nhằm kể chuyện hay bàn luận.
- Cấu trúc: có đủ ba phần: phần đầu giới thiệu khái quát; phần chính trình bày các phương diện kiến trúc, trang trí; phần cuối nhận xét giá trị.
- Thông tin cơ bản: thời gian xây dựng (1833), triều vua (Minh Mạng), chức năng (cổng chính, lễ đài), sự kiện lịch sử (vua Bảo Đại thoái vị ngày 30/8/1945), số đo cụ thể (chiều cao nền đài xấp xỉ 5 m, toàn bộ cao 14,8 m, lầu có 100 cột…).
- Cách trình bày: chia đề mục, kết hợp trình bày theo đối tượng phân loại và theo trình tự không gian.
- Ngôn ngữ, phương tiện: dùng nhiều thuật ngữ kiến trúc (nền đài, gạch vồ, mạch vữa, cuốn vòm, ngói lưu li, bát bửu); có ảnh minh họa và chú thích từ ngữ.
Căn cứ để xác định: dựa vào mục đích viết, hệ thống đề mục, loại thông tin được đưa ra và các phương tiện hỗ trợ trong văn bản, đối chiếu với kiến thức về kiểu văn bản này ở phần Tri thức Ngữ văn.
Câu 2: Phần văn bản trình bày thông tin theo đối tượng phân loại (trang 68)
Tìm phần văn bản thể hiện cách trình bày thông tin theo đối tượng phân loại. Cho biết căn cứ xác định và tác dụng của cách trình bày ấy đối với toàn bộ văn bản.
Trả lời:
- Phần văn bản: mục “Đặc điểm kiến trúc Ngọ Môn”.
- Căn cứ: ngay câu mở đầu, tác giả cho biết công trình gồm hai hệ thống: phần nền đài bên dưới và phần lầu Ngũ Phụng bên trên. Sau đó văn bản dùng hai gạch đầu dòng, mỗi gạch ứng với một hệ thống, và giới thiệu riêng từng hệ thống (kích thước, cửa, vật liệu, lan can; số tầng, số gian, mái, cột, cửa…). Ở cấp lớn hơn, hai đề mục kiến trúc và trang trí cũng là hai nhóm đối tượng được tách bạch.
- Tác dụng: một công trình phức tạp được “chia nhỏ” thành từng phần dễ hiểu; thông tin không bị trộn lẫn; người đọc nắm được tổng thể trước rồi mới đi vào chi tiết, nhờ đó toàn văn bản mạch lạc, chặt chẽ và dễ ghi nhớ.
Câu 3: Phương tiện phi ngôn ngữ và vai trò (trang 68)
Nêu (những) loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản và vai trò của chúng trong việc cung cấp thông tin về di tích Ngọ Môn.
Trả lời: Văn bản sử dụng ảnh chụp Ngọ Môn (toàn cảnh mặt tiền và lầu Ngũ Phụng). Ảnh giúp người đọc hình dung ngay mặt bằng chữ U, ba cửa giữa, lầu hai tầng với các lớp mái nhấp nhô, những điều mà lời văn phải dùng nhiều câu mới diễn tả được. Ảnh còn minh chứng cho các thông tin trong bài, khiến văn bản đáng tin hơn, đồng thời làm trang sách sinh động, gây hứng thú tìm hiểu di tích.
Câu 4: Mối quan hệ giữa nhan đề Ngọ Môn với các thông tin cơ bản (trang 68)
Phân tích mối quan hệ giữa nhan đề Ngọ Môn với các thông tin cơ bản của văn bản.
Trả lời: Nhan đề chỉ gồm tên riêng của di tích, ngắn gọn mà xác định rõ đối tượng. Mọi thông tin trong văn bản đều làm sáng tỏ nhan đề: phần mở đầu cho biết Ngọ Môn là gì, ở đâu, có từ khi nào; phần chính trả lời câu hỏi Ngọ Môn được xây dựng và trang trí ra sao; phần cuối giải thích vì sao Ngọ Môn đáng được trân trọng. Nhan đề như cái trục, còn các thông tin là những nhánh tỏa ra từ trục ấy, gắn bó chặt chẽ và thống nhất.
Câu 5: Vai trò của thông tin chi tiết về hệ thống nền đài và lầu Ngũ Phụng (trang 68)
Em có nhận xét gì về vai trò của những thông tin chi tiết liên quan đến hệ thống nền đài và lầu Ngũ Phụng trong văn bản?
Trả lời:
- Đây là phần thông tin chủ yếu, chiếm dung lượng lớn nhất, giúp người đọc hiểu cụ thể cấu tạo của Ngọ Môn thay vì chỉ biết tên gọi.
- Các số đo (đáy nền dài 57,77 m, cánh chữ U dài 27,06 m, nền lầu lồi cao 1,11 m), các con số về 13 gian, 9 bộ mái, 100 cột (48 cột suốt hai tầng) làm thông tin chính xác, có sức thuyết phục.
- Chi tiết về công năng từng cửa (cửa giữa dành cho vua, hai cửa bên cho quan văn võ, hai lối trong cánh chữ U cho lính và voi ngựa) cho thấy trật tự lễ nghi chặt chẽ của triều đình.
- Những chi tiết ấy làm nổi bật trình độ thiết kế, kĩ thuật xây dựng tinh xảo của người xưa, là cơ sở để tác giả đi đến nhận xét cuối bài về óc sáng tạo và bàn tay tài hoa của những người thiết kế dưới triều Minh Mạng.
Kết luận
Soạn bài Ngọ Môn, em cần nắm được những nét đặc trưng của bài viết giới thiệu di tích, lối sắp xếp thông tin dựa vào không gian (đoạn tả nền đài) và dựa vào việc phân loại đối tượng (mục đặc điểm kiến trúc), vai trò của số liệu, thuật ngữ và ảnh minh họa. Ngọ Môn không đơn giản là cánh cổng ra vào; đó là một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh và là hình ảnh đại diện cho kinh đô xưa.
Xem thêm: