Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) cho hai bộ sách lớp 12: Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (tập một, Bài 3 Sông núi linh thiêng, trang 69–74) và Ngữ văn 12 Cánh diều (tập một, Bài 1 Truyện truyền kì và truyện ngắn hiện đại, trang 14–19). Truyện có nguyên văn chữ Hán là Tản Viên từ phán sự lục, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện. Mỗi bộ sách có một phần soạn riêng bên dưới.
Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức (lớp 10), hãy xem Soạn văn 10 Tản Viên từ phán sự lục – Kết nối tri thức.
Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Chân trời sáng tạo 12 (trang 69–74)
Văn bản 1 của Bài 3 (văn bản 2 là bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu); trọng tâm là đặc điểm truyện truyền kì.

Trước khi đọc (trang 69)
Câu 1 (trang 69): Tóm tắt một truyện kể dân gian có yếu tố kì ảo và nêu tác dụng
Tóm tắt một truyện kể dân gian có sử dụng yếu tố kì ảo và cho biết tác dụng của yếu tố kì ảo trong tác phẩm.
Trả lời (gợi ý với truyện Tấm Cám): Tấm mồ côi mẹ, bị dì ghẻ và Cám hành hạ. Nhờ Bụt giúp, Tấm được đi hội, đánh rơi chiếc giày và trở thành hoàng hậu. Mẹ con Cám nhiều lần hãm hại, Tấm hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị rồi trở lại làm người, sống hạnh phúc bên nhà vua. Yếu tố kì ảo (Bụt, các lần hóa thân) giúp nhân vật hiền lành vượt qua bất công, làm câu chuyện hấp dẫn và thể hiện ước mơ ở hiền gặp lành, cái thiện chiến thắng cái ác của nhân dân.
Đọc văn bản (trang 69–74)
Câu 1 (trang 69): Dự đoán – chuyện gì sẽ xảy ra với Tử Văn sau khi đốt đền?
Trả lời: Em dự đoán hồn ma tướng giặc sẽ tìm đến đe dọa, trả thù Tử Văn, có thể kiện chàng ở cõi âm; chàng sẽ gặp nhiều nguy hiểm nhưng nhờ sự cứng cỏi và chính nghĩa mà cuối cùng thắng thế.
Câu 2 (trang 71): Liên hệ – cách đối xử của Tử Văn với “người đội mũ trụ” và “ông già áo vải, mũ đen”
Trả lời: Với kẻ đội mũ trụ (hồn tên Bách hộ họ Thôi), chàng bỏ ngoài tai những lời đe dọa, vẫn ngồi ngất ngưởng, thái độ khinh bỉ, không chút sợ hãi. Với Thổ công (ông già mặc áo vải), chàng ngạc nhiên, lắng nghe, hỏi han và vâng lời dặn dò. Sự khác biệt cho thấy Tử Văn phân biệt rõ chính – tà: cứng rắn với kẻ gian, tôn trọng và tin cậy người ngay.
Câu 3 (trang 73): Tưởng tượng – cõi âm và cuộc đối mặt trước điện Diêm Vương
Trả lời: Em hình dung cõi âm âm u, lạnh lẽo, có sông lớn tanh hôi, quỷ Dạ Xoa mắt xanh, tóc đỏ canh giữ; cung điện Diêm Vương uy nghiêm, nhiều quan lại hầu hạ. Trước điện, tên đội mũ trụ vừa kêu khóc vừa vu cáo, còn Tử Văn đứng thẳng, lời lẽ cứng cỏi, không chút nhún nhường; khi tên kia đuối lí thì sợ hãi, quỳ xuống tâu xin. Cảnh đối chất giống một phiên tòa căng thẳng giữa chính và tà.
Câu 4 (trang 73): Liên hệ – kết truyện gợi nhớ phần kết tác phẩm dân gian nào?
Trả lời: Kết truyện (Tử Văn được làm phán sự, người tốt được đền đáp, kẻ gian bị trừng trị) gợi nhớ kết thúc có hậu trong nhiều truyện cổ tích như Thạch Sanh, Tấm Cám: người hiền lành, ngay thẳng được hưởng hạnh phúc, kẻ ác bị trừng phạt. Chi tiết Tử Văn “không bệnh mà mất” rồi hiện về làm quan ở cõi âm cũng gần với lối kết thần kì của truyền thuyết, như Thánh Gióng bay về trời.
Câu 5 (trang 74): Suy luận – bạn có đồng ý với lời bình này không?
Trả lời: Em đồng ý. Lời bình khẳng định kẻ sĩ cần giữ sự cứng cỏi, ngay thẳng, không vì sợ “gãy” mà uốn mình theo cái sai. Tử Văn dám đốt đền tà, dám đối chất đến cùng nên chính nghĩa được bảo vệ và chàng được tôn vinh. Ngày nay, sự cứng cỏi cũng cần đi kèm hiểu biết và lẽ phải để không thành cố chấp.
Sau khi đọc (trang 74)
Câu 1 (trang 74): Đề tài, chuỗi hành động/sự kiện và mối quan hệ giữa chúng
Xác định đề tài, tóm tắt chuỗi hành động/sự kiện được kể và chỉ ra mối quan hệ giữa chúng trong văn bản.
Trả lời:
- Đề tài: cuộc đấu tranh giữa người trí thức cương trực với thế lực gian tà (hồn ma tướng giặc chiếm đền, lừa dối cả cõi âm).
- Chuỗi sự kiện:
- Tử Văn đốt đền của hồn Bách hộ họ Thôi đang làm yêu làm quái.
- Hồn tên tướng giặc hiện về đe dọa, đòi dựng lại đền; Tử Văn mặc kệ.
- Thổ công tìm đến, kể sự thật bị chiếm đền và dặn Tử Văn cách đối phó.
- Quỷ sứ bắt Tử Văn xuống cõi âm, chàng đối chất với hồn tướng giặc trước Diêm Vương.
- Nhờ chứng cứ từ đền Tản Viên, sự thật sáng tỏ: kẻ gian bị giam vào ngục Cửu U, Tử Văn được tha.
- Thổ công tiến cử Tử Văn làm phán sự đền Tản Viên; chàng nhận lời, không bệnh mà mất; về sau có người thấy chàng ngồi xe quan phán sự.
- Mối quan hệ: sự việc trước là nguyên nhân của sự việc sau: việc đốt đền gây ra sự trả thù của kẻ gian; sự trả thù dẫn đến phiên xử ở cõi âm; kết quả phiên xử dẫn đến phần thưởng cho Tử Văn. Chuỗi sự kiện cho thấy hành động chính nghĩa cuối cùng được đền đáp.
Câu 2 (trang 74): Tính cách Tử Văn; tầng lớp tiêu biểu; góp phần thể hiện nội dung
Phân tích tính cách của nhân vật Tử Văn và cho biết: a. Tử Văn tiêu biểu cho những người thuộc tầng lớp nào trong xã hội đương thời? b. Tính cách của Tử Văn đã góp phần thể hiện nội dung của tác phẩm như thế nào?
Trả lời:
- Tính cách: thẳng thắn, nóng tính, căm ghét điều ác; dũng cảm (một mình đốt đền tà, không sợ ma quỷ đe dọa); cứng cỏi, kiên quyết bảo vệ lẽ phải đến cùng trước Diêm Vương; nhưng cũng biết lắng nghe và trân trọng người ngay như Thổ công.
- a. Nhân vật đại diện cho tầng lớp kẻ sĩ, nho sĩ (trí thức) nước Việt đương thời – những người có học, giàu tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.
- b. Tính cách ấy làm nổi bật nội dung tác phẩm: ngợi ca người dám đứng lên diệt trừ cái ác vì dân, không lùi bước trước uy quyền; gửi gắm niềm tin rằng lẽ phải rồi sẽ thắng thế; đồng thời gián tiếp phê phán sự nhu nhược, dễ bị lừa của quan lại âm phủ – hình ảnh ẩn dụ của chốn quan trường đương thời.
Câu 3 (trang 74): Bình luận một trong hai chi tiết
Bình luận về một trong hai chi tiết sau: a. Hình phạt mà Diêm Vương dùng để trừng trị tội lừa dối của “người đội mũ trụ”; b. Chức phán sự mà Tử Văn được Thổ Công tiến cử sau vụ kiện ở Minh Ti.
Trả lời (chọn chi tiết a): Diêm Vương sai lấy lồng sắt chụp đầu, nhét khẩu gỗ vào miệng tên đội mũ trụ rồi tống vào ngục Cửu U. Hình phạt nặng nề, đúng với tội lừa dối cả cõi âm, chiếm đền, hại dân của hắn: cái miệng dối trá bị bịt lại, kẻ gian bị giam ở nơi sâu nhất. Chi tiết thể hiện quan niệm ác giả ác báo của nhân dân, niềm tin rằng gian tà dù tinh ranh đến đâu cuối cùng cũng bị vạch mặt. Đồng thời, việc Diêm Vương chỉ xử đúng khi có chứng cứ do Tử Văn kiên quyết đòi lấy cũng cho thấy công lí cần đến người dũng cảm đấu tranh.
(Chi tiết b): chức phán sự là phần thưởng xứng đáng cho người cương trực; việc Tử Văn – một người áo vải – được giao giữ công lí ở cõi âm thể hiện ước mơ của tác giả về một xã hội trọng dụng người ngay thẳng.
Câu 4 (trang 74): Nhận xét cách kết thúc truyện và lời bình cuối văn bản
Trả lời:
- Kết thúc: có hậu và mang màu sắc kì ảo – Tử Văn nhận chức phán sự, mất mà không bệnh, rồi hiện về trên xe quan phán sự. Kết thúc ấy khẳng định người chính trực được đền đáp, làm câu chuyện thêm li kì và đọng lại dư âm huyền thoại.
- Lời bình: người kể chuyện trực tiếp nêu quan điểm, phản bác câu “Cứng quá thì gãy”, khẳng định điều kẻ sĩ phải lo là giữ được sự cứng cỏi. Lời bình làm rõ chủ đề, mang tính giáo huấn, đúng lối kết của truyện truyền kì trung đại.
Câu 5 (trang 74): Xác định chủ đề của truyện
Trả lời: Truyện ngợi ca khí phách ngay thẳng, không khuất phục của người trí thức nước Việt trước thế lực gian ác; khẳng định công lí, lẽ phải rồi sẽ được thực thi; qua đó gián tiếp phê phán thực trạng xã hội nhiều bất công, quan lại tham nhũng, dễ bị lừa dối.
Câu 6 (trang 74): Dấu hiệu truyện truyền kì; suy nghĩ về hiện thực xã hội và thái độ tác giả
Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một truyện truyền kì? Qua tác phẩm, bạn có suy nghĩ gì về hiện thực đời sống xã hội đương thời và thái độ, quan điểm của tác giả trước hiện thực ấy?
Trả lời:
- Dấu hiệu nhận biết thể loại: viết bằng chữ Hán, nằm trong tập Truyền kì mạn lục; kết hợp yếu tố thực (thời gian cuối nhà Hồ, địa danh Lạng Giang, Yên Dũng, nhân vật có tên tuổi) với yếu tố kì ảo (hồn ma, Thổ công, âm phủ, Diêm Vương, người chết hiện về); cốt truyện có nhiều biến cố li kì; cuối truyện có lời bình của tác giả.
- Hiện thực xã hội: qua cõi âm, truyện phản chiếu xã hội đương thời: kẻ xâm lược, kẻ gian chiếm chỗ của người ngay; đền miếu quanh vùng ăn của đút mà bênh vực kẻ ác; quan xử kiện dễ tin lời dối trá; người lương thiện bị chèn ép.
- Thái độ tác giả: phê phán sự bất công, tham nhũng; trân trọng, ngợi ca người trí thức cương trực; gửi gắm niềm tin vào công lí và lòng tự hào dân tộc (một kẻ sĩ nước Nam thắng hồn tướng giặc phương Bắc).
Câu 7 (trang 74): Tương đồng, khác biệt trong cách dùng yếu tố kì ảo so với một truyện cổ tích thần kì
Trả lời (so với Tấm Cám):
- Tương đồng: đều dùng yếu tố kì ảo (thần, Bụt, sự hóa thân, cõi âm) để giúp người tốt chiến thắng, kẻ ác bị trừng phạt; đều thể hiện niềm tin vào công lí, cái thiện.
- Khác biệt: trong Tấm Cám, yếu tố kì ảo thường là sức mạnh ban ơn từ bên ngoài (Bụt hiện lên giúp đỡ), nhân vật khá thụ động lúc đầu; trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, kì ảo là môi trường để nhân vật chủ động hành động, đấu tranh bằng chính phẩm chất của mình; yếu tố kì ảo gắn với bối cảnh lịch sử, địa danh cụ thể và hàm chứa ý phê phán hiện thực, có lời bình của tác giả.
Bài tập sáng tạo (trang 74): Phác thảo kịch bản sân khấu hóa tác phẩm
Dựa vào xung đột giữa các bên và chuỗi hành động của nhân vật Tử Văn, bạn hãy phác thảo ý tưởng cho một kịch bản sân khấu hoá tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.
Gợi ý phác thảo:
- Cảnh 1 – Đốt đền: dân làng than phiền về yêu quái; Tử Văn khấn trời, châm lửa; dân làng lo sợ.
- Cảnh 2 – Đêm sốt: hồn tướng giặc đội mũ trụ hiện về đe dọa; Tử Văn ngồi ngất ngưởng; Thổ công xuất hiện, kể sự thật, dặn dò.
- Cảnh 3 – Âm phủ: quỷ sứ bắt Tử Văn qua sông lớn; phiên đối chất trước Diêm Vương; cao trào khi Tử Văn đòi gửi giấy hỏi đền Tản Viên.
- Cảnh 4 – Phán quyết: chứng cứ về, kẻ gian bị trừng phạt; Thổ công đến tạ ơn, tiến cử Tử Văn.
- Cảnh 5 – Vĩ thanh: người quen gặp Tử Văn trên xe quan phán sự trong sương sớm; người dẫn truyện đọc lời bình.
- Có thể dùng ánh sáng xanh – đỏ để phân biệt cõi trần và cõi âm, âm nhạc dân tộc làm nền.
Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Cánh diều 12 (trang 14–19)
Văn bản đọc hiểu 1 của Bài 1; sách Cánh diều chia văn bản thành các phần đánh số và đặt sáu câu hỏi bên lề. Văn bản 2 là truyện ngắn hiện đại có yếu tố kì ảo của Nguyễn Huy Thiệp, giải trong soạn bài Muối của rừng Cánh diều.
Chuẩn bị (trang 14)
Sách yêu cầu xem lại Kiến thức ngữ văn về truyện truyền kì; đọc trước văn bản; tìm hiểu về Nguyễn Dữ, tập Truyền kì mạn lục và hình tượng Thánh Tản Viên trong truyền thuyết, đời sống văn hóa người Việt.
- Nguyễn Dữ: chưa rõ năm sinh năm mất, sống ở thế kỉ XVI, quê Hải Dương; từng đỗ Hương tiến, làm quan một thời gian rồi lui về ở ẩn, viết Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện bằng chữ Hán.
- Thánh Tản Viên (Sơn Tinh): vị thần núi Tản Viên (Ba Vì) trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, đứng đầu Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian; tượng trưng cho sức mạnh chống thiên tai, bảo vệ cuộc sống. Trong truyện, đền Tản Viên là nơi công lí được xác minh.
Câu hỏi bên lề khi đọc (trang 15–19)
Câu 1 (trang 15): Thái độ của mọi người với việc đốt đền của Tử Văn nói lên điều gì?
Trả lời: Dân làng ai cũng lắc đầu, lè lưỡi, sợ hãi thay cho chàng. Thái độ ấy cho thấy uy thế đáng sợ của ngôi đền tà và sự sợ hãi, cam chịu của dân chúng; đồng thời làm nổi bật lòng dũng cảm hiếm có của Tử Văn – người dám làm điều ai cũng sợ.
Lưu ý bên lề (trang 15, có trong bản in thử SGK): Chú ý thái độ của Tử Văn trước lời nói của viên Bách hộ. Trước lời đe dọa của hồn tướng giặc, chàng thản nhiên mặc kệ, ung dung như không – thái độ coi thường, bình thản, cho thấy chàng tin mình làm việc chính nghĩa.
Câu 2 (trang 16): Tâm sự của thổ thần đem lại cho em suy nghĩ, cảm xúc gì?
Trả lời: Thổ công là người ngay mà bị kẻ gian cướp đền, định kiện thì bị các đền miếu quanh vùng ăn đút che chắn, đành ẩn nhẫn ở xó nhà quê. Em vừa thương cảm cho sự yếu thế của người tốt, vừa bất bình trước cảnh “rễ ác mọc lan”, kẻ có quyền bao che cho nhau. Tâm sự ấy cũng phản ánh hiện thực xã hội nhiều bất công thời tác giả.
Câu 3 (trang 17): Chú ý sự tự ý thức của Tử Văn về nhân cách của chính mình
Trả lời: Khi bị bắt, Tử Văn lớn tiếng khẳng định mình là người có học, sống ngay thẳng nơi trần thế, không làm gì có tội. Chàng ý thức rõ phẩm giá của người trí thức cương trực, tin vào lẽ phải của mình nên không chịu khuất phục, đòi được xét xử công bằng.
Câu 4 (trang 18): Câu nói của Diêm Vương đem lại cho em suy nghĩ gì?
Trả lời: Sau khi sự thật sáng tỏ, Diêm Vương quay sang trách các phán quan: được giao giữ phép công bằng mà vẫn để kẻ gian lừa gạt, thì ở cõi người – nơi có những triều đại mua bán quan tước, ngục tụng – tệ hại còn biết bao nhiêu. Câu nói ấy là lời tự phê phán của chính bộ máy cai quản cõi âm; qua đó, tác giả mượn chuyện âm phủ để chĩa mũi nhọn vào cảnh quan trường trần gian mua quan bán chức, xử kiện không công minh. Em nhận ra muốn có công lí thì người cầm cân nảy mực phải thật sự liêm chính, và rất cần những người như Tử Văn dám lên tiếng.
Câu 5 (trang 19): Chi tiết Tử Văn “chắp tay thi lễ” với người quen có ý nghĩa gì?
Trả lời: Dù đã thành quan phán sự ở cõi âm, Tử Văn vẫn giữ lễ, không quên người quen, cho thấy chàng không thay đổi bản tính, khiêm nhường, trọng tình nghĩa. Việc chàng chỉ chắp tay chứ không nói lời nào rồi biến mất cũng giữ khoảng cách giữa hai cõi, làm câu chuyện thêm huyền ảo và khẳng định sự thật về chức phán sự của chàng.
Đọc hiểu – trả lời câu hỏi sau văn bản (trang 19)
Câu 1 (trang 19): Văn bản chia làm mấy phần? Nội dung từng phần
Theo em, văn bản có thể chia làm mấy phần? Nêu nội dung của từng phần. (Bản in thử trên hoc10 ghi: Tóm tắt nội dung từng phần đã được đánh số trong văn bản Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – bài soạn trả lời theo cả hai cách hỏi.)
Trả lời:
- Phần 1 – Đốt đền: giới thiệu Tử Văn cương trực; chàng đốt ngôi đền của hồn tên Bách hộ họ Thôi.
- Phần 2 – Đe dọa và lời dặn: hồn tướng giặc đến đòi dựng lại đền; Thổ công kể sự thật bị chiếm đền và bày cách cho Tử Văn.
- Phần 3 – Phiên xử ở Minh Ti: Tử Văn bị bắt xuống âm phủ, đối chất, đòi lấy chứng cứ ở đền Tản Viên; kẻ gian bị trừng trị.
- Phần 4 – Phần thưởng và kết thúc: Thổ công trở lại đền, tiến cử Tử Văn làm phán sự; chàng mất và hiện về trên xe quan phán sự; lời bình của tác giả.
Câu 2 (trang 19): Chi tiết về lai lịch Ngô Tử Văn và lí do tác giả lựa chọn
Tìm trong văn bản những chi tiết liên quan đến lai lịch của Ngô Tử Văn. Theo em, tại sao tác giả lại lựa chọn những chi tiết đó để giới thiệu về nhân vật?
Trả lời:
- Chi tiết: tên thật là Soạn, quê ở Yên Dũng, Lạng Giang; tính khảng khái, nóng nảy, thấy gian tà không chịu được; vùng Bắc khen là người cương trực.
- Lí do: giới thiệu tên tuổi, quê quán cụ thể tạo cảm giác người thật, việc thật – đặc điểm của truyện truyền kì; nêu ngay tính cách khảng khái, cương trực để chuẩn bị cho hành động đốt đền và cuộc đấu tranh đến cùng ở phần sau.
Câu 3 (trang 19): Tử Văn trong mối quan hệ với các nhân vật và phẩm chất bộc lộ
Trả lời:
| Quan hệ với | Phẩm chất bộc lộ |
| Hồn tên Bách hộ họ Thôi (kẻ gian) | Dũng cảm, cứng cỏi, khinh bỉ kẻ ác, không sợ đe dọa. |
| Thổ công (người ngay bị hại) | Biết lắng nghe, trọng lẽ phải, sẵn lòng bênh vực người yếu thế. |
| Quỷ sứ, Diêm Vương (quyền lực cõi âm) | Bản lĩnh, tự tin, lời lẽ đanh thép, kiên quyết đòi công lí. |
| Dân làng, người quen | Vì dân trừ hại; giữ lễ, trọng tình nghĩa. |
Câu 4 (trang 19): Ý nghĩa các yếu tố kì ảo và sự tiếp thu sáng tạo từ truyện dân gian
Trả lời:
- Các yếu tố kì ảo: hồn ma tướng giặc, Thổ công, quỷ Dạ Xoa, cõi âm với Diêm Vương, ngục Cửu U, Tử Văn chết đi làm phán sự và hiện về.
- Tác dụng: tạo sức hấp dẫn, li kì; mở ra không gian để phơi bày, phê phán cái ác và bất công; gửi gắm niềm tin vào lẽ công bằng, ước mơ người ngay được trọng dụng.
- Tiếp thu sáng tạo: Nguyễn Dữ kế thừa từ truyện dân gian các mô típ thần linh giúp đỡ, cõi âm phán xử, người tốt được báo đáp (như truyện cổ tích, truyền thuyết Tản Viên). Nhưng ông sáng tạo ở chỗ đặt yếu tố kì ảo trong bối cảnh lịch sử cụ thể, để nhân vật chủ động đấu tranh, gửi vào đó ý phê phán quan trường và lời bình mang tư tưởng nhà nho.

Câu 5 (trang 19): Chức năng của người kể chuyện và người bình luận
Nêu nhận xét của em về chức năng của người kể chuyện trong phần chính văn và của người bình luận ở phần lời bình.
Trả lời: Ở phần truyện chính, người kể giấu mình, kể ở ngôi thứ ba, kể khách quan, dẫn dắt các sự kiện, tái hiện lời nói, hành động nhân vật, tạo kịch tính. Đến phần lời bình, tác giả bước ra trực tiếp bày tỏ quan điểm, đánh giá nhân vật và rút ra bài học về sự cứng cỏi của kẻ sĩ. Hai vai trò bổ sung nhau: một bên làm câu chuyện hấp dẫn, một bên làm rõ tư tưởng – đặc trưng của truyện truyền kì.
Câu 6 (trang 19): Suy nghĩ về lời bình kẻ sĩ chỉ lo không giữ được sự cứng cỏi
Trả lời: Lời bình đề cao khí tiết của người trí thức: điều cần lo là mình có giữ được sự ngay thẳng hay không, chứ không vì sợ thất bại, nguy hiểm mà uốn mình theo cái sai. Em đồng tình, vì xã hội cần những người dám nói thật, dám chống cái xấu như Tử Văn. Tuy vậy, cứng cỏi cần đi cùng hiểu biết, sự khôn ngoan (như Tử Văn biết nghe lời Thổ công, biết đòi chứng cứ) để đấu tranh có hiệu quả.
Kết luận
Soạn bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, dù theo sách Chân trời sáng tạo hay Cánh diều, em cần nắm chuỗi sự kiện nhân – quả từ đốt đền đến phiên xử ở cõi âm, tính cách khảng khái của Ngô Tử Văn, vai trò của yếu tố kì ảo cùng lời bình đề cao khí tiết kẻ sĩ – những đặc trưng tiêu biểu của truyện truyền kì.
Ôn theo bảng tổng hợp sẽ nhanh hơn ôn từng bài lẻ, và bài ôn tập học kì I Ngữ văn 12 Cánh diều có sẵn bảng như vậy cho cả học kì.
Nếu chưa đọc kĩ văn bản, em nên lướt qua các mẫu tóm tắt Tản Viên từ Phán sự lục để nhớ lại các ý chính trước khi làm bài.
Xem thêm: