Quan hệ xã hội là những mối liên hệ giữa người với người, hoặc giữa các nhóm người, hình thành khi họ cùng sống, học tập, lao động và trao đổi với nhau, lặp đi lặp lại đến mức có khuôn phép riêng. Cha mẹ với con, thầy với trò, người bán với người mua đều là quan hệ xã hội. Hiểu mối quan hệ xã hội là gì sẽ giúp đọc đúng các bài Giáo dục công dân, pháp luật và cả đề nghị luận.
| Nghĩa ngắn | Mối liên hệ có tính lặp lại, có quy tắc giữa người với người, nhóm với nhóm |
| Tiếng Anh | social relation, social relationship |
| Gặp trong | Xã hội học, triết học, luật học, môn Giáo dục công dân |
| Ví dụ | Quan hệ gia đình, thầy trò, đồng nghiệp, láng giềng, mua bán |

Quan hệ xã hội: khi gặp gỡ thành nếp
Hỏi đường một người lạ rồi cảm ơn, đi tiếp. Đó là một lần tương tác, chưa thành quan hệ. Nhưng sáng nào cũng ghé cùng một hàng xôi, chủ hàng nhớ mặt, để dành phần ít hành, cuối tháng có hôm cho nợ, thì giữa hai người đã có một mối quan hệ: người bán và khách quen.
Ví dụ nhỏ ấy cho thấy ba điều làm nên một quan hệ xã hội. Thứ nhất, sự tiếp xúc lặp lại chứ không ngẫu nhiên một lần. Thứ hai, mỗi bên có một vai (người bán, người mua; thầy, trò) và chờ đợi bên kia cư xử theo vai ấy. Thứ ba, giữa họ có những quy tắc, thành văn hay không thành văn, như phép lịch sự, lời hứa, hợp đồng. Các ngành khoa học xã hội coi quan hệ xã hội là đơn vị cơ bản để phân tích đời sống cộng đồng; muốn tìm hiểu kĩ có thể đọc thêm về ngành học chuyên nghiên cứu đời sống xã hội.
Cụm từ này khác chữ quan hệ đứng một mình. “Quan hệ” dùng được cho cả hai con số, hai hiện tượng tự nhiên; còn quan hệ xã hội chỉ dùng khi ở hai đầu sợi dây là con người. Nghĩa rộng của chữ quan hệ trong tiếng Việt được giải thích riêng.
Trong triết học, học sinh hay gặp một nhận định của Karl Marx viết năm 1845 trong Luận cương về Feuerbach: bản chất con người “trong tính hiện thực của nó, là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Hiểu đơn giản, muốn biết một người là ai, phải nhìn họ trong các mối liên hệ với gia đình, nơi làm việc, cộng đồng, chứ không tách họ ra đứng riêng.
Mỗi người đang đứng trong bao nhiêu mối quan hệ?
Thử đếm của một học sinh lớp 9: con của bố mẹ, cháu của ông bà, anh của em gái, học trò của sáu bảy thầy cô, bạn cùng lớp, đội viên câu lạc bộ bóng rổ, khách quen của tiệm photo đầu ngõ, thành viên vài nhóm chat. Chưa ra trường mà đã đứng giữa hàng chục mối dây.
Người ta thường xếp chúng theo mấy cách:
- Theo lĩnh vực: quan hệ gia đình, học đường, lao động, kinh tế (mua bán, thuê mướn), hành chính (công dân với cơ quan nhà nước), văn hóa, tôn giáo.
- Theo mức độ chính thức: quan hệ chính thức có quy định rõ (giám đốc và nhân viên, giáo viên chủ nhiệm và học sinh); quan hệ không chính thức dựa trên tình cảm, thói quen (bạn thân, hàng xóm hay sang chơi).
- Theo chủ thể: giữa hai cá nhân, giữa cá nhân với nhóm (một học sinh với tập thể lớp), giữa nhóm với nhóm (hai câu lạc bộ, hai doanh nghiệp).
- Theo nội dung: quan hệ vật chất, xoay quanh của cải, lao động, tiền bạc; quan hệ tinh thần, xoay quanh tình cảm, đạo đức, niềm tin.
Dấu hiệu chung của mọi kiểu là đều có vai trò và quyền, nghĩa vụ đi kèm. Con có bổn phận với cha mẹ; người bán phải giao đúng hàng; bạn bè giữ lời với nhau. Những quy tắc không ai viết ra mà ai cũng ngầm hiểu được gọi là những luật chơi ngầm của cộng đồng.
Vì sao quan hệ xã hội hình thành rồi đổi thay?
Gốc rễ nằm ở chỗ không ai sống một mình được. Một bát cơm cần người trồng lúa, người xay xát, người chở gạo, người bán. Từ nhu cầu ăn, mặc, học, làm việc, con người buộc phải hợp tác, và sự hợp tác lặp lại dần thành quan hệ ổn định. Bên cạnh nhu cầu vật chất là nhu cầu được yêu thương, được công nhận, có bạn để chia sẻ.
Quan hệ xã hội cũng không đứng yên. Chuyển trường thì bạn cũ thưa dần, bạn mới đến. Lên thành phố làm việc, quan hệ làng xóm nhạt đi, quan hệ đồng nghiệp đậm lên. Mạng xã hội lại mở ra những mối quan hệ chỉ gặp qua màn hình, có khi thân hơn cả người ngồi cạnh.
Tác động của chúng đi theo hai chiều. Những mối quan hệ lành mạnh cho ta chỗ dựa lúc khó, người để học hỏi, cơ hội học tập và việc làm. Ngược lại, quan hệ bị lợi dụng để “chạy” việc, hay một nhóm bạn kéo nhau trốn học, lại làm hỏng người trong cuộc. Người Việt có chữ “quan hệ rộng”, lúc là lời khen người giao thiệp giỏi, lúc lại ngầm chê người hay dựa dẫm vào chỗ quen biết.
Quan hệ xã hội, tương tác xã hội và quan hệ pháp luật
| Khái niệm | Cốt lõi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tương tác xã hội | Một lần hành động qua lại giữa hai người, có thể ngẫu nhiên | Nhường ghế cho cụ già trên xe buýt |
| Quan hệ xã hội | Tương tác lặp lại, có vai trò và quy tắc ổn định | Quan hệ giữa tài xế và hành khách đi tuyến quen hằng ngày |
| Quan hệ pháp luật | Quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, các bên có quyền và nghĩa vụ pháp lí | Hợp đồng thuê nhà giữa chủ nhà và người thuê |
Hàng ba trong bảng là chỗ sinh viên luật hay gặp: pháp luật không tạo ra quan hệ xã hội mà đặt khung cho những quan hệ đã có. Chuyện hai người bạn cho nhau mượn sách thì pháp luật để yên; còn khi họ vay nhau một khoản tiền lớn, quan hệ ấy có thể trở thành quan hệ dân sự, có giấy tờ, có trách nhiệm trả.
Còn cụm “quan hệ sản xuất” trong môn Kinh tế chính trị là một nhóm hẹp hơn: những quan hệ giữa người với người trong việc sản xuất ra của cải. Nó nằm trong quan hệ xã hội, chứ không đồng nghĩa.
Một chi tiết dễ bỏ sót: chính khoảnh khắc nhường ghế kia, nếu sáng nào hai người cũng gặp trên một chuyến xe và bắt đầu chào nhau, đã là bước đầu của một quan hệ xã hội mới.
Quan hệ xã hội trong giờ GDCD, giờ luật và đời thường
Mối quan hệ xã hội là gì?
Là một quan hệ xã hội cụ thể giữa những người xác định, như mối quan hệ của em với cô chủ nhiệm. Chữ “mối” biến khái niệm chung thành từng sợi dây đếm được, nên mới có cách nói “giữ gìn các mối quan hệ xã hội”.
Ví dụ về quan hệ xã hội trong đời sống là gì?
Quan hệ cha mẹ và con cái, anh chị em, thầy và trò, bác sĩ và bệnh nhân, chủ quán và khách quen, nhân viên và công ty. Mỗi ví dụ đều có hai vai rõ ràng và những điều mỗi bên phải làm cho bên kia.
Quan hệ xã hội gồm những loại nào?
Có thể chia theo lĩnh vực (gia đình, kinh tế, chính trị, văn hóa…), theo mức độ chính thức hay không chính thức, theo chủ thể (cá nhân, nhóm) và theo nội dung vật chất hay tinh thần. Một mối quan hệ có thể thuộc nhiều nhóm cùng lúc.
Quan hệ xã hội tiếng Anh là gì?
Thường dịch là social relation hoặc social relationship. Khi nói về việc giao thiệp rộng để làm ăn, tiếng Anh hay dùng social network hoặc connections.