Pinyin là hệ thống dùng chữ cái Latinh để ghi cách đọc tiếng Trung phổ thông, kèm dấu thanh điệu đặt trên nguyên âm, ví dụ 你好 ghi là nǐ hǎo. Tên đầy đủ là Hànyǔ Pīnyīn, người Việt gọi là bính âm hay phiên âm pinyin. Pinyin không phải chữ Trung Quốc mà là “cách đánh vần” giúp đọc được chữ Hán.
| Khái niệm | Hệ phiên âm Latinh chính thức của tiếng Trung phổ thông |
| Nghĩa tên gọi | 拼音: ghép âm; 汉语拼音: phiên âm tiếng Hán (Hán Việt: Hán ngữ bính âm) |
| Thuộc | Hệ thống chuyển tự, ghi âm; không thay thế chữ Hán |
| Dấu hiệu nhận biết | Chữ cái Latinh có dấu ngang, sắc, móc, huyền trên nguyên âm: ā á ǎ à |
| Thông qua | Năm 1958 tại Trung Quốc; sau được ISO công nhận |

Pinyin ra đời thế nào?
Chữ Hán không cho biết cách đọc một cách trực tiếp: nhìn chữ 马 không đoán được nó đọc là “mǎ”. Trước đây người học dùng nhiều lối ghi khác nhau, như Wade–Giles của người Anh hay lối phiên trong hệ thống bưu điện (nhờ đó mới có những tên kiểu “Peking” cho Bắc Kinh).
Vào những năm 1950, một nhóm chuyên gia ngôn ngữ ở Trung Quốc soạn ra hệ thống mới; người hay được nhắc nhất là Chu Hữu Quang (Zhou Youguang), thường được gọi là “cha đẻ của pinyin”. Ngày 11/2/1958, phương án được thông qua chính thức. Sau đó pinyin được dùng để dạy trẻ em đọc chữ và được ISO chọn làm chuẩn quốc tế (ISO 7098).
Với người Việt, pinyin hơi giống chữ Quốc ngữ ở chỗ cùng dùng chữ cái Latinh có dấu. Nhưng khác căn bản: chữ Quốc ngữ là chữ viết chính thức của tiếng Việt, còn pinyin chỉ là công cụ ghi âm đi kèm chữ Hán.
Âm tiết pinyin gồm những phần nào
Mỗi chữ Hán ứng với một âm tiết, và mỗi âm tiết pinyin có ba thành phần:
- Thanh mẫu (phụ âm đầu): 21 âm như b, p, m, f, d, t, zh, ch, sh, j, q, x… Có âm tiết không có thanh mẫu, như ài (爱, yêu).
- Vận mẫu (phần vần): nguyên âm đơn a, o, e, i, u, ü và các vần ghép như ai, ao, an, ang, ong…
- Thanh điệu: dấu đặt trên nguyên âm chính.
Lấy hǎo (好, tốt): h là thanh mẫu, ao là vận mẫu, dấu móc trên chữ a là thanh 3. Cách đặt dấu có quy tắc: có a thì dấu nằm trên a; không có a thì nằm trên o hoặc e; gặp cặp iu, ui thì dấu đặt ở chữ đứng sau (liù, guì).
Vài chữ cái pinyin đọc khác hẳn thói quen của người Việt: q gần như “ch” bật hơi, x gần như “x” nhẹ, zh gần “tr”, c là “ts” bật hơi. Bảng đầy đủ âm đầu, vần và cách đọc có ở bài bảng phiên âm tiếng Trung cho người mới học.
Bốn thanh và thanh nhẹ
| Thanh | Dấu | Cao độ | Ví dụ (ma) |
|---|---|---|---|
| Thanh 1 | gạch ngang (ā) | Cao và đều | mā 妈: mẹ |
| Thanh 2 | dấu sắc (á) | Đi lên | má 麻: cây gai |
| Thanh 3 | dấu móc (ǎ) | Xuống thấp rồi lên | mǎ 马: ngựa |
| Thanh 4 | dấu huyền (à) | Rơi mạnh từ cao xuống | mà 骂: mắng |
| Thanh nhẹ | không dấu | Ngắn, nhẹ | ma 吗: trợ từ hỏi |
Bốn chữ mā, má, mǎ, mà là ví dụ kinh điển: chỉ khác dấu mà nghĩa xa nhau từ “mẹ” tới “ngựa”. Vì vậy viết pinyin mà bỏ dấu (như trên biển tên đường, hộ chiếu) thì chỉ đủ để gọi tên, không đủ để học phát âm. Khi hai thanh 3 đứng liền nhau, thanh đầu thường đọc lên gần thanh 2: nǐ hǎo nghe như “ní hǎo”.
Chú ý dấu của pinyin giống mặt chữ nhưng không trùng giọng với dấu tiếng Việt. Dấu “huyền” của pinyin (thanh 4) đọc rơi mạnh, gần dấu nặng kéo dài hơn là dấu huyền của ta.
Pinyin, chữ Hán và âm Hán Việt khác nhau ra sao?
| Chữ Hán | Pinyin | Âm Hán Việt | |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Chữ viết, mang nghĩa | Ghi cách đọc tiếng Trung phổ thông | Cách người Việt đọc chữ Hán |
| Ví dụ “Bắc Kinh” | 北京 | Běijīng | Bắc Kinh |
| Ví dụ “Hán ngữ” | 汉语 | Hànyǔ | Hán ngữ |
| Ai dùng | Người viết tiếng Trung | Người học, bộ gõ, tra từ điển | Người Việt khi đọc từ gốc Hán |
Âm Hán Việt là lý do nhiều từ tiếng Trung nghe quen tai với người Việt; đây là lớp từ được bàn trong bài từ mượn và nhóm từ gốc Hán. Còn chữ Hán thì lại có hai dạng viết, giản thể và phồn thể, xem hai kiểu chữ Trung Quốc khác nhau ở đâu. Pinyin dùng chung cho cả hai dạng chữ.
Thử với một từ quen trên mạng: 宝贝 viết pinyin là bǎobèi, âm Hán Việt là bảo bối; chữ baobei khi gọi người yêu có cách dùng riêng.
Thử sức với pinyin: bài tập có đáp án
Câu 1: Trong “xièxie” (谢谢, cảm ơn), âm tiết thứ hai mang thanh gì?
Đáp án: Thanh nhẹ. Âm tiết “xie” thứ hai không có dấu, đọc ngắn và nhẹ. Âm tiết đầu “xiè” có dấu huyền, là thanh 4.
Câu 2: Đặt dấu thanh 3 vào đúng chỗ trong các âm tiết: hao, mei, jiu.
Đáp án: hǎo (có a, dấu trên a), měi (không có a, dấu trên e), jiǔ (gặp cặp iu, dấu đặt ở u phía sau).
Câu 3: Tách thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu của âm tiết “zhōng” (中).
Đáp án: Thanh mẫu zh, vận mẫu ong, thanh 1 (dấu ngang). Âm Hán Việt của chữ này là “trung”, trong “Trung Quốc”, “trung thu”.
Câu 4: Câu nào đúng: “Pinyin là chữ viết chính thức của tiếng Trung” hay “Pinyin là hệ thống ghi cách đọc chữ Hán bằng chữ Latinh”?
Đáp án: Câu thứ hai. Chữ viết chính thức của tiếng Trung vẫn là chữ Hán; pinyin chỉ hỗ trợ việc đọc, học và gõ.
Người mới học tiếng Trung hay hỏi gì về pinyin
Phiên âm pinyin là gì, có giống bính âm không?
Là một. “Bính âm” là cách đọc Hán Việt của 拼音 (pīnyīn), còn “phiên âm pinyin” là cách gọi phổ thông. Cả ba cách gọi đều chỉ cùng hệ thống ghi âm bằng chữ Latinh.
Học tiếng Trung có cần học pinyin trước không?
Hầu hết giáo trình cho người mới đều bắt đầu bằng pinyin, vì phải đọc đúng âm và thanh rồi mới nhớ chữ được. Pinyin còn là cách gõ chữ Hán phổ biến trên điện thoại và máy tính: gõ “nihao” rồi chọn 你好.
Vì sao chữ ü đôi khi được gõ thành v?
Vì bàn phím không có sẵn chữ ü, nhiều bộ gõ quy ước dùng phím v thay cho nó, ví dụ gõ “lv” để ra 绿 (lǜ, màu xanh lục). Khi viết tay thì vẫn phải ghi ü.
Pinyin tiếng Trung là gì trong tên người, tên địa danh?
Tên người và địa danh Trung Quốc trên báo chí quốc tế thường được ghi bằng pinyin bỏ dấu: Beijing, Shanghai, Guangzhou. Người Việt thì quen đọc theo âm Hán Việt: Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu.