Phúc lợi là những lợi ích mà mọi người được hưởng mà không phải trả tiền, hoặc chỉ trả một phần, ngoài khoản thu nhập chính của mình. Ở tầm xã hội, đó là công viên, thư viện, trợ cấp, bảo hiểm do Nhà nước lo; ở công ty, phúc lợi nhân viên là bảo hiểm, ngày nghỉ có lương, bữa trưa, chuyến du lịch… mà người lao động nhận thêm bên cạnh tiền lương.
| Nghĩa ngắn | Lợi ích được hưởng miễn phí hoặc trả một phần, ngoài thu nhập chính |
| Gốc từ | Hán Việt 福利: phúc (điều may, điều tốt lành) + lợi (cái có ích) |
| Loại từ | Danh từ |
| Hai phạm vi hay gặp | Phúc lợi xã hội (cho người dân) và phúc lợi nhân viên (trong doanh nghiệp) |
| Tiếng Anh | welfare (phúc lợi xã hội), benefits hoặc perks (phúc lợi khi đi làm) |

Phúc lợi: điều may chia cho nhiều người
Ghép hai chữ Hán lại, phúc lợi là “điều tốt lành, có ích”. Nhưng khi dùng, từ này luôn mang thêm một ý: cái lợi ấy không phải tự mình bỏ tiền mua, mà được một tập thể, một tổ chức hay Nhà nước dành cho. Từ điển giải nghĩa nó là lợi ích mọi người có thể được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần, kèm những ví dụ quen thuộc như “quỹ phúc lợi”, “công trình phúc lợi”.
Chính vì gắn với “được chia”, phúc lợi thường đi với các từ chỉ tập thể: phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng, phúc lợi của công đoàn, phúc lợi cho nhân viên. Hiếm ai nói “phúc lợi của tôi” theo nghĩa tiền tiết kiệm riêng.
Trên các trang tuyển dụng, chữ này hiện ra ở mục “Phúc lợi” hay “Chế độ đãi ngộ”, liệt kê mọi thứ người lao động nhận ngoài lương cơ bản. Đó là lý do khi tìm hiểu một công việc, nhiều người đọc mục phúc lợi kỹ không kém mức lương.
Phúc lợi khác lương, quyền lợi và an sinh xã hội thế nào?
| Khái niệm | Là gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lương, thưởng | Tiền trả trực tiếp cho công sức làm việc | Lương tháng, thưởng doanh số |
| Phúc lợi nhân viên | Những gì nhận thêm ngoài lương, nhiều khi không bằng tiền mặt | Bữa trưa, khám sức khỏe, du lịch công ty |
| Quyền lợi | Cái người lao động đương nhiên được hưởng theo luật hoặc hợp đồng | Nghỉ lễ, đóng bảo hiểm bắt buộc |
| An sinh xã hội | Cả hệ thống Nhà nước dựng lên để đỡ người dân khi gặp rủi ro | Bảo hiểm xã hội, trợ cấp, cứu trợ |
Ranh giới giữa các ô không tuyệt đối. Bảo hiểm xã hội vừa là quyền lợi theo luật, vừa được các công ty ghi vào mục phúc lợi. Phúc lợi xã hội lại là một mảng nằm trong hệ thống an sinh xã hội, bên cạnh bảo hiểm và trợ giúp người khó khăn. Cách nhớ đơn giản: quyền lợi là phần “phải có”, phúc lợi thường là phần “được thêm”.
Phúc lợi, quyền lợi, ích lợi đều xoay quanh chữ lợi ích; từ nào thay được cho nó trong câu nào được thử ở những từ thay cho lợi ích.
Nhìn thấy phúc lợi ở đâu quanh mình?
Phúc lợi hiện diện nhiều hơn ta tưởng, chỉ là ít khi được gọi đúng tên:
- Ngoài đường, trong khu phố: công viên, sân chơi, thư viện, nhà văn hóa. Báo chí gọi chúng là “công trình phúc lợi” vì ai cũng dùng được mà không phải mua vé.
- Ở trường: học bổng, miễn giảm học phí, sữa học đường, thư viện mở cửa miễn phí.
- Trong chính sách của Nhà nước: trợ cấp cho người già, người khuyết tật, gia đình khó khăn; bảo hiểm y tế được hỗ trợ một phần tiền mua.
- Ở công ty: nhóm bắt buộc theo luật như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ngày phép có lương; nhóm tự nguyện như bữa trưa, quà sinh nhật, khám sức khỏe định kỳ, khóa học, chuyến du lịch hè, chỗ gửi xe miễn phí.
Ở nhóm tự nguyện, mỗi nơi một kiểu, vì doanh nghiệp tự quyết định đưa gì vào. Có công ty cho làm việc từ xa vài ngày một tuần, có nơi hỗ trợ tiền gửi trẻ. Những khoản này hay được gọi chung bằng chữ tiếng Anh benefit hoặc perks.
Vì sao cần phúc lợi, và nó tác động ra sao?
Ở tầm xã hội, phúc lợi ra đời từ một ý rất đơn giản: không ai tự gánh được mọi rủi ro một mình. Ốm đau, tuổi già, thất nghiệp, thiên tai đến với bất kỳ ai. Khi nhiều người cùng đóng góp (qua thuế, qua bảo hiểm) thì người gặp khó được đỡ một tay, khoảng cách giàu nghèo bớt dãn ra.
Ở tầm doanh nghiệp, lý do thực tế hơn. Lương giữa các công ty cùng ngành thường na ná nhau, nên phúc lợi là thứ giúp giữ người giỏi và khiến nhân viên muốn gắn bó. Một bữa trưa tử tế, một gói khám sức khỏe, một ngày nghỉ đúng lúc con ốm có khi được nhớ lâu hơn vài trăm nghìn tăng lương. Phúc lợi tốt cũng giúp người lao động khỏe hơn cả thân lẫn tâm, gần với ý niệm sống khỏe toàn diện (well-being).
Mặt trái cũng có. Phúc lợi ghi trên tin tuyển dụng có thể chỉ là “phúc lợi trên giấy”: hứa du lịch hằng năm nhưng chẳng bao giờ đi. Ở tầm quốc gia, phúc lợi rộng tay đòi hỏi nguồn thu lớn, và các nước vẫn tranh luận mãi chuyện chia thế nào cho công bằng mà không khiến người ta ỷ lại. Khi đọc một tin tuyển dụng, câu nên hỏi không phải “phúc lợi có những gì” mà là “phúc lợi nào được ghi vào hợp đồng”.
Phúc lợi khi đi làm và khi là công dân
Phúc lợi xã hội là gì?
Là những lợi ích Nhà nước và cộng đồng dành cho người dân, như công trình công cộng miễn phí, trợ cấp cho người khó khăn, hỗ trợ học tập và chăm sóc sức khỏe. Tiền cho các khoản này phần lớn đến từ ngân sách, tức là từ thuế.
Phúc lợi nhân viên gồm những gì?
Thường chia hai nhóm: bắt buộc theo luật (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ phép có lương…) và tự nguyện do công ty đặt ra (bữa ăn, khám sức khỏe, du lịch, đào tạo, quà dịp lễ). Nhóm tự nguyện khác nhau rất nhiều giữa các nơi.
Phúc lợi tiếng Anh là gì?
Nói về chính sách xã hội thì dùng welfare; nói về đãi ngộ ở công ty thì dùng benefits hoặc employee benefits, thân mật hơn là perks.
Quỹ phúc lợi là gì?
Là khoản tiền một tập thể (cơ quan, công ty, công đoàn) để riêng cho các hoạt động chung như thăm hỏi ốm đau, hiếu hỉ, tham quan, quà Tết. Cách lập và chi quỹ theo quy định riêng của từng nơi.