Phụ âm là âm mà khi phát ra, luồng hơi từ phổi đi lên bị cản lại ở một chỗ nào đó trong miệng (môi, răng, lưỡi, cuống họng) rồi mới thoát ra ngoài. Trong tiếng Việt, phụ âm thường đứng đầu tiếng, như b trong “ba”, tr trong “trăng”; một số phụ âm đứng cuối tiếng, như ng trong “sông”. Học sinh lớp 1 làm quen với phụ âm đơn, phụ âm ghép ngay khi học chữ.
| Khái niệm | Âm phát ra khi luồng hơi bị cản trở; đối lập với nguyên âm |
| Thuộc | Ngữ âm học, chương trình Tiếng Việt tiểu học |
| Nghĩa chữ Hán | Phụ (輔) là giúp, đi kèm; âm (音) là tiếng |
| Dấu hiệu nhận biết | Đọc riêng thường phải mượn thêm nguyên âm: bờ, cờ, nhờ… |
| Số lượng (theo chữ viết) | 17 phụ âm đơn và 11 chữ ghép thường được dạy |

Phụ âm theo định nghĩa của từ điển và sách tiếng Việt
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng phụ âm là âm mà khi phát âm, luồng hơi từ phổi đi lên qua thanh hầu thì gặp cản trở đáng kể trước khi ra ngoài; từ điển nói rõ đây là khái niệm để phân biệt với nguyên âm. Ví dụ đi kèm rất gần gũi: b, c, d là những phụ âm.
Tên gọi đã nói lên vai trò. Chữ phụ là “giúp đỡ, đi kèm”, còn nguyên âm (nguyên là gốc) mới là phần chính, mang hơi thở của tiếng. Một tiếng tiếng Việt có thể chỉ có nguyên âm, như “a”, “ơi”, “ai”, nhưng không thể chỉ có phụ âm. Phụ âm phải bám vào nguyên âm mới thành tiếng.
Cần phân biệt hai chuyện hay bị gộp làm một: âm (cái ta nghe) và chữ (cái ta viết). Âm “cờ” được viết bằng ba chữ khác nhau: c (ca), k (kẻ), q (quả). Ngược lại, chữ gi có hai con chữ nhưng chỉ ghi một âm. Vì thế khi các nhà ngôn ngữ học đếm phụ âm theo âm, con số không trùng với số chữ cái trong bảng chữ cái, và mỗi cách phân tích lại cho một con số hơi khác.
Đọc một tiếng lên, làm sao biết đâu là phụ âm?
Có mấy cách thử đơn giản, dùng được cả với học sinh nhỏ.
Thử bằng miệng. Phát âm thật chậm và để ý xem có chỗ nào chặn hơi không. Đọc “b”: hai môi khép lại rồi bật ra. Đọc “t”: đầu lưỡi chạm chân răng trên. Đọc “a” thì miệng mở, hơi đi thẳng ra, không vướng gì. Có cản là phụ âm, không cản là nguyên âm.
Thử bằng vị trí. Trong một tiếng, phụ âm chỉ đứng ở hai chỗ: đầu tiếng (phụ âm đầu) và cuối tiếng (phụ âm cuối). Phần giữa là vần với nguyên âm làm chính. Tách “thương” ra: th là phụ âm đầu, ươ là nguyên âm, ng là phụ âm cuối.
Thử bằng cách gọi tên. Ở trường, các con chữ ghi phụ âm thường được đọc kèm âm “ờ”: bờ, cờ, dờ, đờ, lờ, mờ. Nguyên âm thì đọc thẳng: a, ă, â, e, ê. Đây là cách đọc để đánh vần, không phải tên chữ cái trong bảng chữ cái (bê, xê, dê…).
Phụ âm đơn, phụ âm ghép, phụ âm đầu và phụ âm cuối
Chia theo cách viết
Trong 29 chữ cái tiếng Việt, có 17 chữ ghi phụ âm, thường gọi là phụ âm đơn: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n (mười chữ đầu), tiếp theo là p, q, r, s, t, v, x. Muốn biết thứ tự và cách đọc từng chữ, xem bảng 29 chữ cái và cách đánh vần.
Ngoài ra, tiếng Việt dùng những tổ hợp hai, ba chữ để ghi một phụ âm, gọi là phụ âm ghép: ch, gh, gi, kh, ng, nh, ph, qu, th, tr và ngh (ba chữ). Sách học vần thường dạy đủ 11 tổ hợp này. Riêng gi và qu có tài liệu ngữ âm học xếp khác (chẳng hạn coi u trong “qu” là âm đệm), nhưng khi học đánh vần, cứ coi chúng là phụ âm ghép cho dễ nhớ.
Chia theo vị trí trong tiếng
- Phụ âm đầu: đứng trước vần, gần như phụ âm nào cũng làm được (trừ p hiếm gặp, chủ yếu trong từ mượn như “pin”, “pa-nô”).
- Phụ âm cuối: chỉ có tám cách viết là c, ch, m, n, ng, nh, p, t, như trong các tiếng hạc, sách, cơm, bàn, sông, xanh, đẹp, mát.
Mấy quy tắc chính tả gắn với phụ âm
Đây là những luật các em gặp ngay từ bài học vần chữ k của Tiếng Việt 1. Âm “cờ” viết k trước i, e, ê (kí, kẻ, kê), viết q khi đi với âm đệm u (quả, quê), còn lại viết c (ca, cô, cũ). Tương tự, âm “gờ” viết gh và âm “ngờ” viết ngh trước i, e, ê (ghế, nghe, nghĩ); đi với các nguyên âm còn lại thì viết g, ng.
Phụ âm làm nên nhạc điệu của từ ngữ và tục ngữ
Phụ âm không chỉ là chuyện học vần. Nhà thơ dùng nó để tạo nhạc cho câu chữ.
Ví dụ 1. Người Việt tả mặt hồ, giọt sương hay ánh mắt bằng từ long lanh. Hai tiếng lặp phụ âm đầu l và cùng khép lại bằng âm mũi (ng, nh). Âm l lướt nhẹ trên đầu lưỡi, âm mũi ở cuối ngân dài, nên chỉ nghe thôi đã thấy cái gì đó trong, sáng và hơi lay động. Thử thay bằng “sáng bóng”: nghĩa gần như vậy mà nhạc điệu mất hẳn.
Ví dụ 2. Trong tục ngữ “Mưa dầm thấm lâu”, hai tiếng liền nhau dầm, thấm cùng khép lại bằng phụ âm mũi m. Môi ngậm lại, âm ngân trong mũi, nên câu đọc lên chậm và đều, như chính những cơn mưa nhỏ kéo dài. Còn nghĩa bóng của câu, tác động nhẹ mà đều đặn thì lâu dần sẽ thấm sâu, được giải thích ở bài mưa dầm thấm lâu là gì.
Ví dụ 3. Nhiều từ láy lặp phụ âm đầu như lấp lánh, xôn xao, mênh mông, bập bùng: chính phụ âm đầu giống nhau tạo ra sự hài hòa âm thanh. Với bập bùng, hai âm môi b bật ra liên tiếp gợi ánh lửa chập chờn lúc tắt lúc bùng lên.
Ở chiều ngược lại, những tiếng kết thúc bằng phụ âm tắc p, t, c, ch (đạp, tắt, bậc, sạch) nghe ngắn, dứt khoát. Đọc thơ to lên là cảm được sự khác biệt ấy.
Nguyên âm và phụ âm khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Nguyên âm | Phụ âm |
|---|---|---|
| Luồng hơi | Đi ra tự do, không bị cản | Bị cản ở môi, răng, lưỡi hoặc họng |
| Đứng một mình thành tiếng | Được (a, ơ, ai) | Không, phải đi với nguyên âm |
| Vị trí trong tiếng | Phần chính của vần | Đầu tiếng hoặc cuối tiếng |
| Ví dụ chữ ghi | a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y | 17 chữ như b, đ, h, m, s, x (xem đủ ở phần trên) |
| Cách đọc khi đánh vần | Đọc thẳng: a, e, i | Thường kèm “ờ”: bờ, cờ, lờ |
Tiếng Anh cũng có hai nhóm này (vowel và consonant), nhưng chia khác: chỉ a, e, i, o, u là chữ nguyên âm, còn lại là phụ âm, riêng y có lúc là nguyên âm. Muốn ghi chính xác âm của các ngôn ngữ, người ta dùng bảng phiên âm quốc tế IPA, mỗi kí hiệu ứng với đúng một âm.
Bài tập nhận diện phụ âm có lời giải
Câu 1: Tìm phụ âm đầu và phụ âm cuối trong các tiếng: “trường”, “nghiêng”, “khóc”, “bạn”.
Đáp án: “trường”: phụ âm đầu tr, phụ âm cuối ng. “nghiêng”: phụ âm đầu ngh, phụ âm cuối ng. “khóc”: phụ âm đầu kh, phụ âm cuối c. “bạn”: phụ âm đầu b, phụ âm cuối n.
Câu 2: Tiếng nào dưới đây không có phụ âm đầu: “ao”, “sao”, “ơi”, “mơ”, “anh”?
Đáp án: “ao”, “ơi”, “anh” không có phụ âm đầu (mở đầu bằng nguyên âm). Riêng “anh” có phụ âm cuối nh. “sao” có phụ âm đầu s, “mơ” có phụ âm đầu m.
Câu 3: Điền c, k hoặc q vào chỗ trống: …ái bàn, …uả na, …on mèo, …ể chuyện.
Đáp án: cái bàn, quả na, con mèo, kể chuyện. Trước ê phải viết k; có âm đệm u thì viết q; còn lại viết c.
Câu 4: Chọn g hay gh, ng hay ngh: …ồi xuống, …ế gỗ, …ỉ ngơi, …ôi nhà.
Đáp án: ngồi xuống, ghế gỗ, nghỉ ngơi, ngôi nhà. Gặp i, e, ê thì dùng gh, ngh; gặp các nguyên âm khác thì dùng g, ng.
Câu 5: Trong các từ “long lanh”, “xôn xao”, “mênh mông”, “ồn ào”, từ nào không được tạo nên nhờ lặp phụ âm đầu? Vì sao?
Đáp án: Từ ồn ào. Hai tiếng của nó đều mở đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu; chúng giống nhau ở phần vần chứ không ở phụ âm. Ba từ còn lại lặp phụ âm đầu l, x, m.
Thắc mắc thường gặp khi học phụ âm
Tiếng Việt có bao nhiêu phụ âm?
Nếu đếm theo chữ viết như sách học vần: 17 phụ âm đơn và 11 phụ âm ghép (ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, qu, th, tr). Nếu đếm theo âm như các nhà ngữ âm học thì con số khác, vì nhiều chữ cùng ghi một âm (c, k, q) và mỗi phương ngữ phát âm cũng không giống nhau.
Phụ âm ghép là gì?
Là phụ âm được viết bằng hai hoặc ba con chữ ghép lại nhưng đọc thành một âm, như ph trong “phở”, ngh trong “nghé”. Không đọc tách từng chữ.
Phụ âm cuối gồm những chữ nào?
Có tám cách viết phụ âm cuối: c, ch, m, n, ng, nh, p, t. Ví dụ: bác, ếch, chăm, lan, vàng, nhanh, kẹp, hát.
Chữ y là nguyên âm hay phụ âm?
Trong tiếng Việt, y là nguyên âm, đọc như i (như trong “yêu”, “mỹ”). Chỉ trong tiếng Anh, y mới có lúc đóng vai phụ âm, như trong “yes”.