Phong hóa là từ Hán Việt mang hai nghĩa gần như không dính dáng nhau. Nghĩa cũ chỉ phong tục, tập quán và nếp sống của cả một xã hội, như trong câu than “phong hóa suy đồi”. Nghĩa khoa học chỉ quá trình đá và khoáng vật bị phá vỡ, biến đổi vì nắng, nước, không khí và sinh vật. Người hỏi phong hóa nghĩa là gì trong giờ Địa lí cần nghĩa thứ hai; người đọc sách cũ gặp nghĩa thứ nhất.
| Nghĩa xã hội | (Từ cũ) phong tục, tập quán, nếp sống của một cộng đồng, nói gộp lại |
| Nghĩa địa lí | Quá trình đá, khoáng vật bị phá hủy và biến đổi tại chỗ do tác động của tự nhiên |
| Chữ Hán | 風化: phong (gió, thói tục) + hóa (biến đổi, cảm hóa) |
| Tiếng Anh | customs, mores (nghĩa xã hội); weathering (nghĩa địa lí) |

Phong hóa: chuyện nếp làng và chuyện đá
Mục từ phong hóa trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học được tách làm hai, mỗi mục một từ loại. Đặt cạnh nhau mới thấy chúng đi hai đường.
- Danh từ, ghi chú là từ cũ: phong tục, tập quán và nếp sống của một xã hội nói chung. Ví dụ tự đặt: Ông đồ già lắc đầu, bảo đám cưới bây giờ làm rình rang quá, phong hóa làng mình đổi khác hết rồi.
- Động từ, dùng trong khoa học trái đất: đá bị hủy hoại dần do khí quyển, nước và sinh vật. Ví dụ: Bậc đá ong trước đình đã phong hóa, sờ tay vào là vụn ra từng lớp.
Nghĩa thứ nhất nay hiếm gặp trong lời nói thường ngày, chủ yếu còn trong văn bản cũ, truyện thời Pháp thuộc hay lời bình về đạo đức xã hội. Nghĩa thứ hai thì sống khỏe trong sách giáo khoa: phong hóa lí học (đá nứt vỡ vì nóng lạnh thất thường, nước đóng băng trong khe), phong hóa hóa học (nước, khí cacbonic, axit hòa tan và làm biến chất khoáng vật) và phong hóa sinh học (rễ cây len vào khe đá, vi sinh vật tiết chất phân hủy). Sản phẩm vụn bở mà quá trình này để lại chính là vật liệu đầu tiên để thành đất.
風化: gió thổi qua, người đổi theo
Chữ phong (風) nghĩa gốc là gió, rồi mở sang nghĩa thói quen chung của một vùng: phong tục, phong thổ, gia phong. Chữ hóa (化) là biến đổi, và cũng là cảm hóa, dạy cho người ta đổi thành tốt hơn, như trong giáo hóa. Từ điển Hán Việt giảng 風化 là “như phong giáo”, tức nếp sống được hình thành nhờ dạy dỗ, nêu gương.
Hình ảnh khá đẹp: cái nếp chung của một xã hội lan đi như gió, thấm dần vào từng nhà, không ai ép mà ai cũng theo. Người xưa nói “phong hóa suy đồi” là ý ấy: làn gió tốt đã yếu, thói xấu lấn lên.
Nghĩa địa lí là nghĩa thuật ngữ, đọc hai chữ ấy theo nghĩa đen: gió, và thời tiết nói chung, làm đá biến đổi. Tiếng Trung cũng dùng 風化 cho hiện tượng này, nên hai nghĩa chung một mặt chữ mà mỗi bên vẫn có lí riêng.
Tờ báo mang tên Phong Hóa
Ai học văn học hiện đại sẽ gặp hai chữ này ở một chỗ quen: tuần báo Phong Hóa. Từ số 14 ra ngày 22/9/1932, tờ báo do nhóm Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) điều hành và trở thành cơ quan ngôn luận của Tự Lực văn đoàn, sau này nối tiếp bằng tờ Ngày Nay. Cái tên nghe nghiêm trang như một tờ báo luân lí, nhưng nội dung lại rất trẻ: tranh biếm, truyện vui, những bài chế giễu lễ giáo khắt khe và cổ vũ lối sống mới.
Chính sự trái ngược ấy làm chữ phong hóa trên măng-sét báo thành một kiểu chơi chữ ngầm: bàn về phong tục để đòi thay đổi phong tục. Muốn biết thêm về nhóm nhà văn đứng sau tờ báo, có thể đọc bài về Thạch Lam trong nhóm Tự Lực văn đoàn.
Từ gần nghĩa, trái nghĩa và những chữ na ná
| Từ | Quan hệ với phong hóa | Ghi chú |
|---|---|---|
| Phong tục, tập quán, nếp sống | Gần nghĩa với nghĩa xã hội | Phong hóa nói gộp, thiên về mặt đạo đức chung |
| Thuần phong mỹ tục | Phong hóa tốt đẹp | Thường dùng trong văn bản hành chính |
| Thương phong bại tục, đồi phong | Trái nghĩa: làm hỏng phong hóa | Sắc thái phê phán mạnh |
| Bóc mòn, xâm thực | Dễ lẫn với nghĩa địa lí | Phong hóa làm đá vụn tại chỗ; bóc mòn mang vật liệu đi nơi khác |
| Phong hỏa (烽火) | Chỉ giống âm | Khói lửa báo động thời xưa, không liên quan |
Khi muốn nói về cái nếp chung của người Việt bằng lời bây giờ, chọn phong tục hay nếp sống sẽ tự nhiên hơn. Bài phong tục, tập quán khác hủ tục ở đâu giải thích kĩ ranh giới giữa các chữ này, còn mặt tốt đẹp được gói trong giải nghĩa cụm thuần phong mỹ tục.
Viết phong hóa hay phong hoá đều được, chỉ khác chỗ đặt dấu thanh. Lỗi cần tránh là dùng nghĩa xã hội trong bài Địa lí, kiểu “đá bị suy đồi phong hóa”: đá thì bị phong hóa, còn thứ suy đồi chỉ có thể là phong hóa của con người.
Phong hóa trong sách cũ và trong đề Địa lí
Phong hóa suy đồi là gì?
Là cách nói cũ, chỉ phong tục và đạo đức chung của xã hội đang xuống cấp: lễ nghĩa lỏng lẻo, thói xấu lan rộng. Cụm này hay gặp trong văn chương, báo chí đầu thế kỉ XX và trong lời than của người lớn tuổi.
Phong hóa trong Địa lí nghĩa là gì?
Đó là việc đá và khoáng vật gần mặt đất vỡ vụn, đổi cả thành phần vì nóng lạnh, nước, không khí và sinh vật. Sách thường chia ba kiểu: lí học, hóa học, sinh học.
Vì sao phong hóa xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất?
Vì ở đó đá tiếp xúc trực tiếp với nắng, mưa, gió, không khí và sinh vật, những tác nhân gây phong hóa. Càng xuống sâu, các tác nhân này càng yếu nên đá ít bị biến đổi.
Phong hóa tiếng Anh là gì?
Nghĩa địa lí dịch là weathering. Nghĩa xã hội có thể dịch là customs hoặc mores, tùy câu văn đang nói về tập tục hay về chuẩn mực đạo đức chung.