Phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương không giống bất cứ thi sĩ nào cùng thời. Thơ bà dùng thể Đường luật vốn trang nghiêm của nhà nho, nhưng lời lẽ lại là tiếng Nôm dân dã, táo bạo, nhiều tầng nghĩa, vừa đùa cợt vừa xót xa cho thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
Phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương
Phần thơ làm nên tên tuổi Hồ Xuân Hương là mấy chục bài thơ Nôm truyền tụng, viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú Đường luật. Bà thường mượn một vật, một cảnh rất quen như chiếc bánh trôi, miếng trầu, quả mít, cái giếng, bàn cờ, cây đu để nói chuyện người, chuyện đời. Ẩn sau lối nói tưởng như bông đùa ấy là nỗi buồn về duyên phận và khát khao được sống, được yêu một cách trọn vẹn.

Phần lớn thơ bà hướng về người phụ nữ. Vịnh vật hay vịnh cảnh, bài thơ thường vẫn có bóng dáng một người con gái với phận lẽ mọn, duyên muộn, lỡ làng, và một thái độ không chịu cam phận. Bánh trôi nước là ví dụ quen thuộc nhất: chiếc bánh “vừa trắng lại vừa tròn” là ẩn dụ cho vẻ đẹp và tấm lòng son sắt của người phụ nữ dù số phận bị người khác nhào nặn.
Bên cạnh đó là giọng trào phúng sắc sảo. Bà chế giễu những kẻ tự xưng quân tử, những ông sư không ra sư, và cả uy thế của kẻ xâm lược, như trong bài Đề đền Sầm Nghi Đống.
Nét làm thơ Hồ Xuân Hương được nhắc nhiều nhất là lối nói nước đôi: một số bài như Đánh cờ, Quả mít, Thiếu nữ ngủ ngày, Đánh đu có lớp nghĩa thứ hai gợi đến thân thể và chuyện ân ái. Người đời sau hay gọi đó là “thanh mà tục, tục mà thanh”: đọc lớp nghĩa nào cũng thành bài thơ trọn vẹn, và đằng sau tiếng cười là lời khẳng định quyền được sống, được yêu của người phụ nữ. Riêng bài thơ Đánh cờ, nguyên đề Đánh cờ người, kể một ván cờ giữa chàng và thiếp bằng chính lối nói ấy.
Ngay một bài bốn câu như Mời trầu cũng đủ thấy cách bà xưng tên mình rất thẳng và đòi hỏi một tình cảm thủy chung:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
Bài thơ được học trong sách Ngữ văn 8 Cánh diều, xem soạn bài Mời trầu.
Điều gì làm nên phong cách thơ Hồ Xuân Hương?
Tư liệu về cuộc đời Hồ Xuân Hương rất ít. Theo giai thoại và gia phả các dòng họ được các nhà nghiên cứu dẫn lại, bà hai lần lấy chồng và cả hai lần đều làm lẽ: lần đầu với Tổng Cóc Nguyễn Bình Kình, lần sau với ông phủ Vĩnh Tường Phạm Viết Ngạn. Những bài Tự tình, Làm lẽ thường được đọc như tiếng nói của chính người phụ nữ ấy về nỗi cô đơn, tủi phận.

Nhưng bà không giam mình trong nỗi buồn ấy. Sinh ra và sống chủ yếu ở Thăng Long, giữa chữ nghĩa nhà nho, hội hè dân gian và đời sống phố chợ, bà có được thứ ngôn ngữ vừa bác học vừa dân dã. Tập Lưu hương ký cho thấy bà giao du, xướng họa thơ với nhiều văn nhân đương thời. Còn những chuyện kể về các mối tình của bà với danh sĩ này khác, kể cả Nguyễn Du, phần lớn là giai thoại chưa có căn cứ.
Cá tính mạnh mẽ, sắc sảo cùng vốn sống ấy tạo nên phong cách thơ Hồ Xuân Hương: khi thẳng thắn, khi ẩn ý, nhưng lúc nào cũng mang tinh thần nhân văn, đứng về phía người phụ nữ.
Những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Hồ Xuân Hương
Cần lưu ý rằng trong số thơ Nôm truyền tụng mang tên bà, có bài vẫn còn tranh cãi về tác giả. Những bài thường được dẫn nhất gồm:
- Tự tình (chùm ba bài, thất ngôn bát cú): nỗi buồn tủi, cô đơn của người phụ nữ lỡ làng duyên phận và sức phản kháng không chịu cam chịu. Tự tình (bài 2) được học ở lớp 9 và lớp 10.
- Bánh trôi nước (thất ngôn tứ tuyệt): mượn chiếc bánh trôi để nói vẻ đẹp, thân phận chìm nổi và tấm lòng son của người phụ nữ.
- Mời trầu (thất ngôn tứ tuyệt): lời mời trầu thành lời bày tỏ khát vọng về một tình yêu thắm thiết, thủy chung.
- Đề đền Sầm Nghi Đống (thất ngôn tứ tuyệt): thái độ ngạo nghễ trước ngôi đền thờ viên tướng giặc bại trận.
- Thiếu nữ ngủ ngày (thất ngôn bát cú): vẻ đẹp thân thể trẻ trung của người con gái được tả bằng con mắt trân trọng xen lẫn tinh nghịch.
- Không chồng mà chửa (thất ngôn bát cú): giọng thơ vừa trào lộng vừa bênh vực người con gái lỡ làng trước lề thói khắt khe.

Ai yêu giọng thơ này có thể đọc tiếp bài thơ Quả mít.
Xem thêm những thông tin về bà:
- Tóm tắt tiểu sử Hồ Xuân Hương – Quê quán, sống vào thời đại nào?
- Hồ Xuân Hương được mệnh danh là gì?
- Tổng hợp các bài thơ của Hồ Xuân Hương – tác phẩm tiêu biểu
Kết luận
Phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương không chỉ để đọc qua mà còn để ngẫm: sau mỗi tiếng cười là cả một câu chuyện về thân phận người phụ nữ thời phong kiến. Chính những ràng buộc của thời đại ấy đã làm nên một nữ sĩ mà đến nay thơ vẫn được truyền tụng rộng rãi, và người đọc vẫn quen gọi bà bằng danh xưng “Bà chúa thơ Nôm” do nhà thơ Xuân Diệu đặt.