Yêu và đồng cảm là đoạn trích tản văn nghị luận của Phong Tử Khải – họa sĩ, nhà văn nổi tiếng Trung Quốc – bàn về lòng đồng cảm, cội nguồn của cái nhìn nghệ thuật. Văn bản được học ở Bài 3 – chủ đề nghệ thuật thuyết phục của văn nghị luận – trong sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một. Bài viết tổng hợp những kiến thức cần nắm về tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, luận điểm, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy của văn bản.
Nội dung văn bản Yêu và đồng cảm
Văn bản trong SGK trích từ cuốn Sống vốn đơn thuần, bản dịch tiếng Việt do NXB Hà Nội và Nhã Nam ấn hành năm 2020. Bản dịch còn trong thời hạn bảo hộ, vì vậy Văn VN lược thuật nội dung theo sáu đoạn được đánh số trong sách và chỉ trích vài câu ngắn. Phần trả lời câu hỏi SGK có trong bài soạn bài Yêu và đồng cảm.

Đoạn 1 – Câu chuyện về chú bé. Một cậu bé vào phòng giúp tác giả xếp đồ: lật lại chiếc đồng hồ đang úp mặt, đưa chén trà ra phía trước vòi ấm, xếp lại đôi giày đặt ngược chiều, giấu sợi dây treo tranh đang buông thõng. Khi được khen “Cháu chăm quá, toàn dọn dẹp hộ chú thôi!”, cậu bé đáp rằng thấy đồ vật nằm như thế thì cậu không yên lòng. Với cậu, chiếc giày đặt ngược thì không trò chuyện được với nhau, chén trà khuất sau ấm thì như con nấp sau lưng mẹ. Tác giả cảm phục tấm lòng ấy và nhận ra: sự đồng cảm là nền tảng của cái đẹp, của văn miêu tả và bố cục hội họa. Người thường chỉ đồng cảm với đồng loại hay loài vật, còn nghệ sĩ đồng cảm với muôn vật.
Đoạn 2 – Cái nhìn của người họa sĩ. Cùng một gốc cây, nhà khoa học, người làm vườn, bác thợ mộc và họa sĩ mỗi người thấy một mặt khác nhau. Ba người đầu nhìn cây theo mục đích thực tiễn, còn họa sĩ chỉ ngắm dáng hình của nó mà không nhằm mục đích nào khác. Thế giới mà nghệ sĩ nhìn thấy là thế giới của cái Mĩ, nơi một gốc cây khô hay bông hoa dại không tên cũng trở thành đề tài đẹp; đó là một thế giới bình đẳng.
Đoạn 3 – Đồng cảm là phẩm chất của nghệ sĩ. Muốn vẽ trẻ em, họa sĩ phải tự đưa tâm hồn trở về sự hồn nhiên; muốn vẽ người ăn mày, phải cảm được nỗi khổ của họ. Không có lòng đồng cảm mà chỉ chăm chăm vào kĩ thuật thì cùng lắm chỉ là “thợ vẽ”. Nhờ lòng đồng cảm, nghệ sĩ có được đời sống tinh thần phong phú: “Do đó, nghệ sĩ lớn ắt là những người có nhân cách vĩ đại.”
Đoạn 4 – Đồng cảm với cả vạn vật. Sự đồng cảm nơi người nghệ sĩ trải tới cả những vật không có sự sống. Những hình ảnh như chim cuốc kêu ra máu, hoa đào cười gió đông, nếu xét theo thực tiễn thì vô lí, nhưng trong thế giới của cái Mĩ lại hoàn toàn chân thật. Họa sĩ muốn vẽ bình hoa phải hóa thân vào bình hoa; đó là cảnh giới “ta và vật một thể”.
Đoạn 5 – Trẻ thơ và nghệ thuật. Ai cũng ít nhiều có sự đồng cảm với hình dạng, màu sắc của sự vật, chỉ khác nhau ở mức độ. Trẻ em giàu lòng đồng cảm hơn cả: chúng trò chuyện với chó mèo, hôn lên hoa cỏ, chơi với búp bê một cách chân thành. “Bởi vậy bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật.” Lớn lên, nhiều người bị cách nghĩ của số đông làm hao mòn tấm lòng ấy; ai giữ được nó, người đó là nghệ sĩ.
Đoạn 6 – Tuổi thơ, thời hoàng kim. Giới phê bình phương Tây nói đến khái niệm “đặt tình cảm vào” – hòa mình vào đối tượng để cảm nhận cái đẹp – và trẻ nhỏ là những người làm điều đó tự nhiên nhất khi chơi đùa say mê. Tác giả kết lại: tuổi thơ là thời hoàng kim của đời người; tuy đã đi qua, nhưng nhờ nghệ thuật, ta vẫn có thể tìm về một thế giới nhân ái, hạnh phúc như thuở nhỏ.
Thông tin tác giả Phong Tử Khải
Phong Tử Khải (1898 – 1975) là họa sĩ, nhà văn viết tản văn, đồng thời là dịch giả, nhà lí luận về giáo dục âm nhạc và mĩ thuật nổi tiếng của Trung Quốc thế kỉ XX. Ông quê ở trấn Thạch Môn, huyện Sùng Đức, tỉnh Chiết Giang, trong một gia đình buôn bán khá giả. Thời học ở trường sư phạm tại Hàng Châu, ông theo học âm nhạc và hội họa với Lý Thúc Đồng – người sau này xuất gia, trở thành pháp sư Hoằng Nhất. Ảnh hưởng của người thầy khiến ông gắn bó với tư tưởng Phật giáo, đề cao lòng từ bi và trái tim trẻ thơ.
Đầu những năm 1920, ông sang Nhật Bản học vẽ, âm nhạc và ngoại ngữ, rồi trở về dạy học, làm biên tập, vẽ minh họa. Ông được xem là người mở đầu cho thể loại tranh mạn họa hiện đại ở Trung Quốc: những bức tranh mực nét giản dị, hóm hỉnh, nhiều khi vẽ về trẻ em và đời thường. Trong kháng chiến chống Nhật, ông vẽ nhiều tranh phản ánh nỗi đau chiến tranh.
Sự nghiệp của ông trải trên nhiều lĩnh vực với hàng trăm đầu sách. Tản văn của ông giản dị, mộc mạc mà giàu suy tưởng, thấm đẫm lòng nhân ái và vẻ hồn nhiên như trẻ thơ, nhiều bài được chọn vào sách giáo khoa. Tác phẩm tiêu biểu: tập tùy bút Duyên Duyên đường tùy bút, bộ tranh Hộ sinh họa tập; ông còn dịch Truyện kể Genji của Nhật Bản sang tiếng Trung. Ở Việt Nam, bạn đọc biết đến ông chủ yếu qua tuyển tập Sống vốn đơn thuần.
Thông tin tác phẩm Yêu và đồng cảm
Xuất xứ văn bản Yêu và đồng cảm
Văn bản trích từ cuốn Sống vốn đơn thuần (NXB Hà Nội liên kết với Nhã Nam, 2020, các trang 268 – 273). Đoạn trích nằm trong chương thứ năm của cuốn sách, mang tên Sống mà học nghệ thuật. Đây là tuyển tập văn – họa tập hợp 41 tản văn cùng 43 bức tranh của ông.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: tản văn nghị luận (văn bản nghị luận về một vấn đề nghệ thuật, viết theo lối tản văn).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận; kết hợp tự sự (câu chuyện chú bé) và biểu cảm.
Vấn đề nghị luận
Vai trò của lòng đồng cảm trong sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật; nét gần gũi giữa trẻ nhỏ và nghệ sĩ ở tấm lòng đồng cảm với vạn vật.
Bố cục – Yêu và đồng cảm có mấy phần?
SGK đánh số văn bản thành 6 đoạn, có thể gộp thành 4 phần:
- Phần 1 (đoạn 1 và 2): từ câu chuyện về chú bé, tác giả nêu cách hiểu về sự đồng cảm và cái nhìn riêng của người nghệ sĩ.
- Phần 2 (đoạn 3): biểu hiện của sự đồng cảm và vai trò của nó với người họa sĩ.
- Phần 3 (đoạn 4 và 5): đối tượng của lòng đồng cảm; điểm giống nhau giữa trẻ em và nghệ sĩ.
- Phần 4 (đoạn 6): thông điệp về tuổi thơ và vai trò của nghệ thuật trong việc gìn giữ tấm lòng đồng cảm.
Luận điểm chính
- Sự đồng cảm là cội nguồn của cái đẹp và của cái nhìn nghệ thuật.
- Nghệ sĩ nhìn sự vật ở thế giới của cái Mĩ, khác với cái nhìn thực dụng của các nghề khác.
- Không có lòng đồng cảm thì không thể thành nghệ sĩ thực thụ; nghệ sĩ lớn phải có nhân cách lớn.
- Trẻ em giàu lòng đồng cảm một cách tự nhiên, nên trẻ thơ mang sẵn bản chất nghệ thuật.
- Nghệ thuật giúp người lớn tìm lại thế giới hồn nhiên, nhân ái của tuổi thơ.
Giá trị nội dung
Văn bản khẳng định lòng đồng cảm là phẩm chất cốt yếu của người làm nghệ thuật, là điều kiện để con người nhìn thấy và tạo ra cái đẹp. Tác giả trân trọng, ngợi ca tâm hồn trong trẻo của trẻ em, đồng thời nhắn gửi mỗi người hãy gìn giữ tấm lòng biết rung động trước vạn vật – điều làm cho cuộc sống nhân ái, hài hòa hơn.
Giá trị nghệ thuật
- Mở đầu bằng một câu chuyện đời thường sinh động, dẫn dắt tự nhiên vào vấn đề nghị luận.
- Lí lẽ rõ ràng, bằng chứng gần gũi (chú bé, gốc cây, bình hoa, trò chơi của trẻ) kết hợp hình ảnh thơ ca cổ điển.
- Thao tác so sánh, đối chiếu (nghệ sĩ với các nghề khác, trẻ em với người lớn) làm nổi bật luận điểm.
- Giọng văn nhẹ nhàng, tâm tình, đậm chất tản văn; ngôn từ giản dị mà giàu suy tưởng.
Ý nghĩa nhan đề Yêu và đồng cảm
Nhan đề nêu hai phẩm chất song hành: có yêu thương mới biết đồng cảm, và nhờ đồng cảm, tình yêu với con người và vạn vật mới sâu sắc. Đây vừa là phẩm chất cần có của người nghệ sĩ, vừa là điều tác giả mong mỗi người gìn giữ trong đời sống.
Sơ đồ tư duy Yêu và đồng cảm
Sơ đồ tóm tắt các ý chính giúp em ôn tập nhanh.

Lời kết
Yêu và đồng cảm là trang tản văn nghị luận nhẹ nhàng mà sâu sắc về cội nguồn của nghệ thuật. Khi ôn tập, em cần nhớ: tác giả Phong Tử Khải (1898 – 1975), văn bản trích từ Sống vốn đơn thuần, thể loại tản văn nghị luận, bố cục 6 đoạn (4 phần), các luận điểm về sự đồng cảm ở người nghệ sĩ và ở trẻ em.
Xem thêm:
- Soạn bài Yêu và đồng cảm (Kết nối tri thức 10)
- Soạn bài Chữ bầu lên nhà thơ
- Hiền tài là nguyên khí của quốc gia: tác giả, tác phẩm