Hội Tao đàn là hội xướng họa thơ ca do vua Lê Thánh Tông lập ra vào cuối thế kỉ XV, quy tụ nhà vua cùng hai mươi tám văn thần đỗ đạt, nên còn được gọi là Tao đàn nhị thập bát tú. Nhà vua giữ ngôi Tao đàn nguyên súy, tức chủ soái của hội thơ. Thơ của Tao đàn, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, là một mảng lớn của văn học thời Lê sơ.
| Khái niệm | Hội thơ cung đình thời Lê Thánh Tông, nơi vua và quan cùng xướng họa |
| Tên khác | Tao đàn nhị thập bát tú (騷壇二十八秀), Hội thơ Tao đàn |
| Thời gian | Những năm cuối triều Lê Thánh Tông, khoảng 1494–1495 trở đi |
| Thuộc | Văn học trung đại Việt Nam, giai đoạn thế kỉ XV |
| Dấu hiệu nhận biết | Thơ xướng họa theo đề tài, vịnh cảnh, ca ngợi đất nước thái bình; có tập thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi tập |

Hội Tao đàn và hai chữ “tao đàn”
Tao đàn viết bằng chữ Hán là 騷壇. Chữ tao 騷 là chữ trong nhan đề Ly tao, thiên thơ nổi tiếng của Khuất Nguyên thời Chiến Quốc; về sau chữ này được mượn để chỉ thơ ca và người làm thơ, như trong cụm tao nhân mặc khách. Chữ đàn 壇 là cái nền đắp cao, nơi hội họp. Ghép lại, tao đàn là nơi người làm thơ tụ hội, và cũng dùng để chỉ giới thơ văn nói chung, như khi nói “nổi tiếng trên tao đàn”.
Viết hoa thành Hội Tao đàn thì chỉ riêng hội thơ của vua Lê Thánh Tông. Điều thú vị là tên gọi quen thuộc “Tao đàn nhị thập bát tú” (hai mươi tám ngôi sao của Tao đàn) phần lớn do người đời sau đặt, dựa trên số văn thần được kể là thành viên của hội.
Hội ra đời trong bối cảnh khá đặc biệt. Triều Lê Thánh Tông là thời Nho học thịnh, khoa cử đều đặn, nhiều người đỗ tiến sĩ được trọng dụng. Sau mấy năm được mùa, đất nước yên ổn, nhà vua làm thơ ca ngợi cảnh thái bình rồi đưa cho các triều thần họa lại. Từ các cuộc xướng họa ấy mà thành hội.
Những tập thơ gắn với Hội Tao đàn
Thơ của hội được chép vào nhiều tập. Có hai tập học sinh nên nhớ tên.
Hồng Đức quốc âm thi tập
Tập thơ chữ Nôm, thường được xem là sáng tác của vua Lê Thánh Tông cùng các thành viên Tao đàn, gồm những bài xướng và họa. “Hồng Đức” là niên hiệu của nhà vua, “quốc âm” là tiếng nước mình, tức chữ Nôm. Giới nghiên cứu coi đây là cột mốc thứ hai của thơ Nôm Đường luật, sau Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Đặt hai tập cạnh nhau sẽ thấy rõ: thơ Nguyễn Trãi, như các bài học trong soạn bài Bảo kính cảnh giới, mang nỗi niềm riêng của một ẩn sĩ; thơ Hồng Đức mang giọng cung đình, ca ngợi, trang trọng hơn.
Quỳnh uyển cửu ca
Tên tập thơ, hiểu theo mặt chữ là chín khúc ca, gắn với chín bài thơ chữ Hán nhà vua làm để mừng cảnh được mùa, thái bình, rồi các văn thần họa theo. Đây là ví dụ rõ nhất cho lối sinh hoạt thơ của Tao đàn: một người xướng, nhiều người họa cùng vần, cùng đề tài.
Ngoài hai tập này, các tài liệu còn kể thêm nhiều tập thơ chữ Hán khác của nhà vua và hội. Số lượng, tên gọi và người viết từng bài vẫn còn là chuyện văn bản học bàn nhiều, vì nhiều bản chép đã thất lạc hoặc được biên tập lại về sau.
Ai ở trong hai mươi tám “ngôi sao”?
| Vai trò | Người giữ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tao đàn nguyên súy | Vua Lê Thánh Tông | Người xướng thơ, chủ soái của hội |
| Tao đàn phó nguyên súy | Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận | Hai đại thần nổi tiếng văn chương trong triều |
| Các thành viên khác | Văn thần đỗ đại khoa trong triều | Danh sách hai mươi tám người ở các tài liệu không hoàn toàn trùng nhau |
Thân Nhân Trung là cái tên học sinh lớp 10 đã gặp qua văn bản soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, trích từ văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu. Biết ông là phó nguyên súy Tao đàn sẽ dễ hiểu vì sao bài văn bia ấy được viết bằng giọng trang trọng, đầy niềm tin vào thời thịnh trị.
Về danh sách đầy đủ, nên dè dặt. Có tài liệu ghi năm lập hội là 1495, có tài liệu ghi 1494; có bản kể tên một số người mà bản khác không có. Khi làm bài, chỉ cần nêu chắc ba người: Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận.
Thơ Tao đàn có gì đặc trưng?
- Sáng tác theo lối xướng họa. Một bài xướng, nhiều bài họa theo cùng vần, cùng đề. Thơ vì thế mang tính chất sinh hoạt văn chương tập thể của triều đình.
- Đề tài vịnh cảnh và vịnh vật. Vịnh bốn mùa, mười hai tháng, năm canh, cảnh đẹp non sông, các đồ vật quen thuộc. Thiên nhiên được nhìn với con mắt yêu mến và tự hào.
- Cảm hứng ca ngợi. Đất nước thái bình, vua sáng tôi hiền, mùa màng bội thu là những ý trở đi trở lại.
- Dùng cả chữ Hán và chữ Nôm. Việc nhà vua và triều thần cùng làm thơ Nôm nói lên vị thế được nâng lên của chữ Nôm trong văn học thời Lê sơ.
- Tính quy phạm cao. Phần lớn là thơ Đường luật, niêm luật chặt chẽ, nhiều điển cố, giọng trang nhã.
Mặt mạnh và mặt hạn chế đi liền nhau. Nhờ có Tao đàn, thơ Nôm được trau chuốt và có chỗ đứng trong cung đình. Nhưng cũng vì là thơ xướng họa, nhiều bài na ná nhau, ít cái riêng. Khi đọc một bài thơ Hồng Đức, câu hỏi hay nhất là: chỗ nào nhà thơ thoát khỏi đề tài chung để nói một điều của riêng mình? Hiểu thêm về con người nhà vua ở chân dung vua thi sĩ Lê Thánh Tông.
Luyện tập: bốn câu về Hội Tao đàn
Câu 1: Hội Tao đàn do ai lập ra, vào thời nào?
Đáp án: Do vua Lê Thánh Tông lập ra vào cuối thế kỉ XV, những năm cuối triều đại của ông (các tài liệu ghi khoảng năm 1494–1495).
Câu 2: Vì sao Hội Tao đàn còn gọi là Tao đàn nhị thập bát tú?
Đáp án: Vì hội gồm hai mươi tám văn thần (nhị thập bát tú: hai mươi tám vì sao), cùng nhà vua là nguyên súy.
Câu 3: Hồng Đức quốc âm thi tập có ý nghĩa gì với thơ Nôm?
Đáp án: Đây là tập thơ Nôm quan trọng, được xem là cột mốc thứ hai của thơ Nôm Đường luật sau Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; cho thấy chữ Nôm được dùng sáng tác cả ở chốn cung đình.
Câu 4: Nêu hai điểm khác giữa thơ Tao đàn và thơ Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập.
Đáp án: Có thể nêu: (1) thơ Tao đàn chủ yếu xướng họa tập thể, theo đề tài định sẵn, còn thơ Nguyễn Trãi là tiếng nói cá nhân; (2) thơ Tao đàn thiên về ca ngợi, giọng cung đình, còn thơ Nguyễn Trãi có nhiều nỗi niềm, triết lí sống nhàn, gần gũi đời thường.
Tao đàn nguyên súy, Tao đàn Sài Gòn và vài chữ dễ lẫn
Tao đàn là gì?
Tao đàn là nơi tụ hội của những người làm thơ, và rộng hơn là giới thơ văn. Khi viết hoa “Hội Tao đàn” thì thường chỉ hội thơ của vua Lê Thánh Tông thế kỉ XV.
Tao đàn nguyên súy là ai?
Là vua Lê Thánh Tông. Danh hiệu này có nghĩa là vị chủ soái của Tao đàn, người đứng đầu các cuộc xướng họa thơ.
Hội Tao đàn do ai lập ra?
Do chính vua Lê Thánh Tông lập ra, với hai phó nguyên súy là Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận.
Công viên Tao Đàn ở Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan không?
Chỉ trùng tên. Công viên ở trung tâm thành phố mang tên Tao Đàn, gợi ý nghĩa nơi hội tụ văn chương, chứ không phải nơi Hội Tao đàn thế kỉ XV từng hoạt động; hội thơ của Lê Thánh Tông sinh hoạt ở kinh thành Thăng Long.