Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương là văn bản đọc mở đầu Bài 3 (Vẻ đẹp quê hương) trong sách Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo tập một. Văn bản gồm bốn bài ca dao, đưa người đọc đi từ ba mươi sáu phố phường Thăng Long, qua sông Bạch Đằng, núi Lam Sơn, vào đất võ Bình Định rồi xuống tận vùng Tháp Mười. Bài viết dưới đây tổng hợp toàn văn, thông tin tác giả dân gian, thể loại, bố cục, nội dung từng bài, giá trị và sơ đồ tư duy của văn bản.
Nội dung văn bản Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương
Ca dao là sáng tác dân gian, không thuộc diện bảo hộ quyền tác giả. Dưới đây là toàn văn bốn bài theo bản in trong SGK (ca dao thường có dị bản, khi làm bài em dùng đúng bản trong sách).

Bài 1
Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay,
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy,
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang,
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng,
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông,
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè,
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà.
Quanh đi đến phố Hàng Da,
Trải xem hàng phố thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
Bài 2
Em đố anh từ nam chí bắc,
Sông nào là sông sâu nhất?
Núi nào là núi cao nhất ở nước ta?
Anh mà giảng được cho ra,
Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh.
Sâu nhất là sông Bạch Đằng,
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan.
Cao nhất là núi Lam Sơn,
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
Bài 3
Bình Định có núi Vọng Phu,
Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh.
Em về Bình Định cùng anh,
Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.
Bài 4
Ai ơi về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.
Thông tin tác giả dân gian
Bốn bài ca dao trong văn bản không có tên tác giả. Đó là sáng tác của nhân dân lao động ở nhiều vùng miền, được hát lên trong lúc làm việc, lúc vui chơi, lúc hò hẹn rồi truyền miệng qua nhiều thế hệ. Trong quá trình lưu truyền, mỗi người, mỗi vùng có thể thêm bớt đôi chữ, vì vậy ca dao thường có nhiều dị bản.
Gọi chung là “tác giả dân gian”, nhưng qua các bài ca dao ta vẫn hình dung được những con người rất cụ thể: người Kẻ Chợ tự hào về phố phường, cô gái thông minh đặt câu đố về lịch sử, chàng trai Bình Định nồng hậu mời người thương về quê, người miền Tây hào phóng khoe sự trù phú của đất mình.
Thông tin tác phẩm Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương
Thể loại, thể thơ, phương thức biểu đạt
- Thể loại: ca dao (lời thơ trữ tình dân gian, có thể hát lên thành dân ca).
- Thể thơ: lục bát (bài 1, 3, 4); bài 2 là lục bát biến thể – mấy dòng đầu dài ngắn khác nhau (7, 6, 9 tiếng) rồi mới trở về nhịp lục bát quen thuộc.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp miêu tả và liệt kê.
Bố cục – Văn bản có mấy phần?
Văn bản gồm 4 bài ca dao, mỗi bài nói về một nét đẹp của quê hương:
- Bài 1: vẻ đẹp phồn hoa của kinh thành Thăng Long với ba mươi sáu phố phường.
- Bài 2: vẻ đẹp lịch sử – truyền thống đánh giặc giữ nước gắn với sông Bạch Đằng, núi Lam Sơn.
- Bài 3: vẻ đẹp của cảnh vật, lịch sử, món ăn ở vùng đất Bình Định.
- Bài 4: sự trù phú, giàu có của vùng Tháp Mười.
Tìm hiểu bài ca dao số 1
Bài ca dao là một “chuyến dạo phố” bằng thơ. Lời rủ rê ở câu đầu mở ra hành trình, rồi tên phố nối tên phố hiện lên dồn dập: “Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai”, rồi Hàng Buồm, Hàng Thiếc… Phép liệt kê kết hợp điệp từ “Hàng” vừa giúp người nghe dễ nhớ, vừa cho thấy mỗi con phố gắn với một nghề, một mặt hàng – nét đặc trưng của khu phố cổ Thăng Long – Hà Nội.
Sau khi kể, người hát mới nói lời nhận xét: “Phồn hoa thứ nhất Long Thành”. Kinh thành đông vui bậc nhất, phố xá đan dày như sợi cửi trên khung dệt, đường sá ngang dọc như ô bàn cờ. Hai câu kết “Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ” và mong muốn chép lại thành thơ để lưu truyền thể hiện sự lưu luyến và niềm tự hào sâu sắc về Thăng Long.
Tìm hiểu bài ca dao số 2
Bài ca dao có hình thức đố – đáp quen thuộc trong hát giao duyên. Cô gái ra câu đố: sông nào sâu nhất, núi nào cao nhất nước ta, và hứa sẽ “kết nghĩa giao hoà” nếu chàng trai giải được. Câu trả lời của chàng trai không dựa vào số đo địa lí mà dựa vào chiều sâu, chiều cao của lịch sử:
- Sông Bạch Đằng “sâu nhất” vì “Ba lần giặc đến ba lần giặc tan” – gợi những chiến thắng lẫy lừng của Ngô Quyền (năm 938), Lê Hoàn (năm 981) và Trần Hưng Đạo (năm 1288) trên dòng sông này.
- Núi Lam Sơn (Thanh Hóa) “cao nhất” vì đó là nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc Minh; “ngàn” ở đây nghĩa là rừng núi.
Lối đố – đáp vừa duyên dáng vừa thông minh: tình yêu đôi lứa gắn liền với hiểu biết và niềm tự hào về truyền thống chống giặc của cha ông.
Tìm hiểu bài ca dao số 3
Câu lục bát mở đầu dùng điệp từ “có” ba lần kết hợp liệt kê để giới thiệu ba địa danh nổi tiếng của Bình Định: núi Vọng Phu gắn với truyền thuyết người vợ đứng chờ chồng đến hóa đá; đầm Thị Nại – đầm nước rộng ở vùng cửa biển Quy Nhơn, từng chứng kiến những trận thủy chiến thời Tây Sơn; cù lao Xanh – hòn đảo ngoài khơi. Biện pháp điệp từ nhấn mạnh sự phong phú của cảnh sắc và lịch sử, giọng thơ như đang say sưa “khoe” quê.
Hai câu sau là lời mời ân cần “Em về Bình Định cùng anh”, hứa hẹn món canh bí đỏ nấu với nước dừa – một món ăn dân dã, đậm vị miền Trung. Vẻ đẹp Bình Định vì thế hiện lên đủ cả: thiên nhiên, lịch sử, lòng thủy chung của con người và hương vị quê nhà.
Tìm hiểu bài ca dao số 4
Chỉ một cặp lục bát mà bài ca dao vẽ được cả một vùng đất. Lời gọi “Ai ơi” hướng tới tất cả mọi người, như một lời mời rộng mở. Điệp từ “sẵn” trong câu bát (“Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”) cho thấy Tháp Mười – vùng trũng rộng lớn ở miền Tây Nam Bộ – thiên nhiên hào phóng đến mức cá tôm có sẵn để bắt, lúa mọc tự nhiên có sẵn để ăn. Bài ca dao thể hiện niềm tự hào về sự trù phú của quê hương và tấm lòng hiếu khách của người dân Nam Bộ.
Giá trị nội dung
Bốn bài ca dao nhắc đến nhiều tên phố, tên sông, tên núi, tên vùng đất từ Bắc vào Nam, gợi ra nhiều vẻ đẹp của quê hương: cảnh vật, lịch sử, văn hóa, sản vật, món ăn và tình người. Qua đó, tác giả dân gian bày tỏ tình yêu chân chất, tinh tế và niềm tự hào sâu sắc đối với quê hương, đất nước.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ lục bát, lục bát biến thể nhịp nhàng, dễ thuộc.
- Liệt kê nhiều địa danh cụ thể; điệp từ (“Hàng”, “có”, “sẵn”) tạo nhịp điệu và nhấn mạnh.
- Hình thức đố – đáp, lời mời, lời gọi “ai ơi” gần gũi, giàu tính đối thoại.
- Ngôn ngữ mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày; gợi nhiều hơn tả.
Văn bản có điểm gì giống và khác các bài ca dao về quê hương khác?
Giống nhiều bài ca dao về quê hương, văn bản thích “gọi tên” đất nước và dùng thể lục bát. Điểm đáng chú ý là mỗi bài khai thác một phương diện khác nhau: bài 1 là phố phường, bài 2 là lịch sử, bài 3 là cảnh – người – món ăn, bài 4 là sản vật. Đặt cạnh nhau, bốn bài như bốn mảnh ghép tạo thành bức tranh khá trọn vẹn về vẻ đẹp đất Việt.
Sơ đồ tư duy Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương
Em có thể dùng sơ đồ dưới đây để ôn bài nhanh.

Lời kết
Những ý quan trọng cần nhớ: văn bản gồm 4 bài ca dao của tác giả dân gian, chủ yếu viết theo thể lục bát (bài 2 là lục bát biến thể, theo lối đố – đáp); mỗi bài ca ngợi một vẻ đẹp của quê hương – Thăng Long, sông núi lịch sử, Bình Định, Tháp Mười; nghệ thuật nổi bật là liệt kê địa danh, điệp từ, lời mời gọi tha thiết. Hiểu kĩ văn bản này sẽ giúp em đọc tiếp bài thơ Việt Nam quê hương ta và làm tốt phần tập làm thơ lục bát trong Bài 3.
Xem thêm: