Phản diện là phía đối lập, mang những nét tiêu cực mà tác giả đưa vào tác phẩm để phê phán; gọi đầy đủ là nhân vật phản diện, đứng ngược với nhân vật chính diện. Lý Thông trong Thạch Sanh, mẹ con Cám trong Tấm Cám là những vai phản diện học sinh gặp sớm nhất. Ở rạp phim, “đóng vai phản diện” nghĩa là đóng vai kẻ xấu.
| Khái niệm | Nhân vật hoặc lực lượng đối lập với nhân vật chính, thường đại diện cho cái xấu, cái ác |
| Nghĩa gốc | Hán Việt 反面: phản (trái, ngược) + diện (mặt), tức “mặt trái” |
| Thuộc | Lí luận văn học, phần nhân vật trong truyện, kịch, phim |
| Dấu hiệu nhận biết | Cản trở, hãm hại nhân vật chính; bị tác giả phê phán; thường chịu kết cục xứng đáng |
| Trái nghĩa | Chính diện |

Phản diện: cái mặt trái của câu chuyện
Chữ phản là ngược lại, chữ diện là mặt. Ghép lại, phản diện vốn là “mặt trái”, và từ điển tiếng Việt giảng đúng theo hướng đó: phần chứa những điều xấu, điều tiêu cực mà người viết, người dựng phim đưa vào để phê phán, đả kích. Từ đứng cặp với nó là chính diện, mặt phải, mặt tích cực.
Trong giờ Ngữ văn, chữ này hầu như chỉ đi cùng chữ nhân vật. Khi xếp loại nhân vật theo phẩm chất, sách thường chia làm hai phe: nhân vật chính diện mang lí tưởng, phẩm chất tốt đẹp mà tác giả ngợi ca; nhân vật phản diện mang thói xấu, tội ác mà tác giả lên án. Cách chia này đứng cạnh cách chia theo vai trò (nhân vật chính, nhân vật phụ), có thể ôn lại trong bài tìm hiểu khái niệm nhân vật văn học.
Cần tách hai khái niệm hay bị trộn. Nhân vật chính là người được kể nhiều nhất, giữ vai trò trung tâm; nhân vật chính diện là người tốt. Phần lớn truyện dân gian để hai điều này trùng nhau, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Một nhân vật phản diện vẫn có thể là nhân vật chính của tác phẩm.
Tiếng Anh có hai chữ hay được dịch là phản diện. Antagonist gốc Hy Lạp, nghĩa là người chống lại, đối thủ của nhân vật chính (protagonist). Villain hẹp hơn: kẻ ác, kẻ gian. Một antagonist không bắt buộc phải là villain.
Lý Thông, mụ dì ghẻ và những gương mặt quen
Truyện cổ tích là nơi phản diện hiện ra rõ nhất, vì ranh giới thiện ác được kẻ bằng nét đậm.
Lý Thông trong Thạch Sanh
Anh hàng rượu kết nghĩa với Thạch Sanh rồi lần lượt lừa chàng đi nộp mạng cho Trăn Tinh, cướp công giết Trăn Tinh, rồi cướp công cứu công chúa và lấp cửa hang nhốt chàng dưới đó. Mỗi lần Lý Thông giở trò là một lần Thạch Sanh phải vượt thử thách, và tấm lòng thật thà của chàng hiện ra rõ hơn. Kết truyện, mẹ con Lý Thông bị sét đánh chết, hóa thành bọ hung. Đọc lại diễn biến trong bài soạn văn bản Thạch Sanh lớp 6.
Mẹ con Cám trong Tấm Cám
Dì ghẻ và Cám lừa trút giỏ tép, giết cá bống, bắt nhặt thóc lẫn gạo, rồi tìm cách hại Tấm hết lần này đến lần khác. Không có hai nhân vật này thì cũng không có những lần hóa thân thành vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị. Phản diện ở đây là động cơ đẩy câu chuyện đi tới, xem kĩ ở bài hướng dẫn soạn truyện Tấm Cám.
Bá Kiến trong Chí Phèo
Văn học hiện thực cho phản diện một bộ mặt khó nhận hơn. Bá Kiến của Nam Cao không la hét, không vung dao; lão cười nói ngọt ngào, dùng mưu mẹo để kẻ này trị kẻ khác. Chính sự lọc lõi ấy đẩy anh canh điền hiền lành thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Kẻ ác ở đây ngồi trên chiếu trên, mặc áo lương, chứ không mang hình chằn tinh.
Bốn dấu hiệu để chỉ ra nhân vật phản diện
- Đứng chắn đường nhân vật chính. Phản diện tạo ra xung đột: cướp công, vu oan, hãm hại, ngăn cản. Thử bỏ nhân vật đó ra khỏi truyện; nếu mạch truyện gần như không còn thử thách nào thì đó là phản diện.
- Hành động vì lòng tham, sự ích kỉ, sự độc ác. Động cơ của họ đi ngược những giá trị mà tác phẩm đề cao.
- Bị tác giả nhìn bằng con mắt phê phán. Để ý lời kể: những từ như gian xảo, độc ác, lão, mụ, hay giọng mỉa mai, là tín hiệu thái độ của người kể.
- Thường nhận kết cục tương xứng. Truyện dân gian gần như luôn để kẻ ác bị trừng trị. Văn học hiện đại thì không chắc, đôi khi phản diện vẫn đắc thắng để tác giả tố cáo xã hội.
Xung đột giữa chính diện và phản diện là một dạng xung đột kịch tính quen thuộc; bài xung đột trong truyện và kịch nói rõ cách nó đẩy cốt truyện lên đỉnh điểm.
Không phải phản diện nào cũng là một con người
Có thể chia các kiểu phản diện theo mấy hướng:
- Phản diện là người: kẻ ác thuần túy như Lý Thông, hoặc kẻ có chiều sâu, có hoàn cảnh, có lí do riêng như nhiều vai phản diện trong phim truyện bây giờ.
- Phản diện là thế lực: chằn tinh, đại bàng, quỷ dữ trong cổ tích; thiên tai trong truyện phiêu lưu; hoặc một hủ tục, một trật tự xã hội bất công trong văn học hiện thực.
- Phản diện nằm ngay trong nhân vật chính: sự ích kỉ, nỗi sợ, lòng tham mà nhân vật phải tự vượt qua.
Truyện mạng còn đặt tên riêng cho từng kiểu, chẳng hạn kiểu nữ phản diện xinh đẹp mà thâm hiểm trong bài kiểu nhân vật Liễu Như Yên của truyện mạng, hay những vai phụ sinh ra để làm nền và chết sớm ở nhân vật pháo hôi trong truyện mạng.
Đặt phản diện cạnh chính diện và phản anh hùng
| Tiêu chí | Chính diện | Phản diện | Phản anh hùng (anti-hero) |
|---|---|---|---|
| Phẩm chất | Tốt đẹp, đáng noi theo | Xấu, đáng phê phán | Có khuyết điểm lớn nhưng không ác |
| Vị trí | Thường là nhân vật chính | Thường đối đầu nhân vật chính | Thường là nhân vật chính |
| Thái độ tác giả | Ngợi ca, cảm thông | Lên án, châm biếm | Vừa cảm thông vừa chê trách |
| Ví dụ | Thạch Sanh, cô Tấm | Lý Thông, mẹ con Cám | Kiểu nhân vật chính ngang tàng, lầm lạc trong tiểu thuyết hiện đại |
Có những nhân vật đứng lưng chừng khiến người đọc tranh cãi mãi. Chí Phèo là một trường hợp: hắn rạch mặt ăn vạ, đâm chém người, nhưng Nam Cao không viết hắn như một kẻ phản diện mà như một nạn nhân. Gặp nhân vật như vậy, đừng vội dán nhãn; hãy xem tác giả đặt lòng thương và lời buộc tội vào ai.
Thử sức với năm câu về nhân vật phản diện
Câu 1: Chỉ ra nhân vật phản diện trong truyện Thạch Sanh và nêu hai việc làm thể hiện bản chất của nhân vật ấy.
Đáp án: Nhân vật phản diện chính là Lý Thông (cùng mẹ hắn). Hai việc tiêu biểu: lừa Thạch Sanh đi canh miếu nộp mạng cho Trăn Tinh thay mình; sau đó cướp công giết Trăn Tinh để được vua phong quan. Những việc ấy cho thấy Lý Thông tham lam, xảo trá, vong ân.
Câu 2: Nhân vật chính và nhân vật chính diện có phải là một không?
Đáp án: Không. “Nhân vật chính” xét theo vai trò trong cốt truyện, “nhân vật chính diện” xét theo phẩm chất và thái độ của tác giả. Trong Thạch Sanh hai điều trùng nhau, nhưng có tác phẩm lấy một nhân vật xấu làm trung tâm; khi đó nhân vật chính lại là nhân vật phản diện.
Câu 3: Vì sao truyện cổ tích cần nhân vật phản diện?
Đáp án: Phản diện tạo ra thử thách để nhân vật chính diện bộc lộ phẩm chất; tạo ra xung đột làm truyện hấp dẫn; và qua kết cục của kẻ ác, truyện gửi gắm niềm tin “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” của nhân dân.
Câu 4: Trong câu kể lại truyện Tấm Cám “Mụ dì ghẻ nham hiểm bắt Tấm đi chăn trâu đồng xa”, những từ ngữ nào cho thấy thái độ của người kể với nhân vật phản diện?
Đáp án: Cách gọi mụ và tính từ nham hiểm. Cả hai bộc lộ thái độ chê ghét của người kể, giúp người đọc nhận ra đây là nhân vật phản diện ngay từ cách xưng gọi.
Câu 5: Kể tên một nhân vật phản diện không phải con người trong truyện em đã học.
Đáp án tham khảo: Chằn tinh (Trăn Tinh) và đại bàng trong Thạch Sanh; Thủy Tinh trong Sơn Tinh, Thủy Tinh, nếu xét theo vai đối đầu và gây lũ lụt (dù Thủy Tinh không hẳn là “kẻ ác” theo nghĩa đạo đức). Đây là các lực lượng đối lập với nhân vật chính.
Vai phản diện ngoài trang sách
Nhân vật phản diện là gì, nói ngắn cho học sinh tiểu học?
Là “người xấu” trong truyện: kẻ hay lừa lọc, hãm hại người tốt và cuối cùng thường bị trừng phạt. Ví dụ dễ nhớ là Lý Thông hay mẹ con Cám.
Vai phản diện là gì trong phim?
Là vai đóng kẻ xấu, kẻ chống lại nhân vật chính. Nhiều diễn viên nổi tiếng nhờ vai phản diện, vì vai càng ác càng khiến khán giả nhớ lâu.
Phản diện tiếng Anh là gì?
Thường dịch là antagonist (đối thủ của nhân vật chính) hoặc villain (kẻ ác). Nhân vật chính diện, người hùng là hero; nhân vật chính là protagonist.
Phản diện có phải lúc nào cũng xấu xa?
Không hẳn. Trong truyện dân gian thì gần như có; còn tiểu thuyết và phim hiện đại hay cho phản diện một quá khứ, một lý do để người xem hiểu dù không đồng tình. Hiểu được kẻ ác không có nghĩa là bào chữa cho việc ác.
Nhân vật phản diện nghĩa là gì khi người ta nói về một người ngoài đời?
Đó là cách nói ví von: “Anh ta thành phản diện trong câu chuyện này” nghĩa là người ấy bị xem là kẻ gây chuyện, kẻ có lỗi. Lời này mang ý chê, nên tránh dùng để dán nhãn người khác khi chưa rõ đầu đuôi.