Tiếng là đơn vị nhỏ nhất ta phát ra trong một lần mở miệng khi nói tiếng Việt, và cũng là đơn vị dùng để cấu tạo nên từ. Mỗi tiếng ứng với một âm tiết, viết thành một chữ có khoảng trắng hai bên; cấu tạo của tiếng gồm ba phần: âm đầu, vần và thanh. Học sinh gặp khái niệm này từ lớp 1, rồi học kĩ ở bài “Cấu tạo của tiếng” lớp 4.
| Khái niệm | Đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất, dùng để tạo nên từ |
| Nghĩa thông thường khác | Âm thanh, ngôn ngữ, giọng nói, tiếng tăm, một giờ đồng hồ |
| Thuộc | Ngữ âm và cấu tạo từ tiếng Việt |
| Dấu hiệu nhận biết | Đọc lên thành một nhịp; luôn có vần và thanh, có thể thiếu âm đầu |
| Học ở | Tiếng Việt 1, Tiếng Việt 4, Ngữ văn 6 (từ đơn, từ phức) |

Mỗi tiếng là một nhịp phát âm
Thử vỗ tay theo câu “Bầu ơi thương lấy bí cùng”. Ta vỗ đúng sáu cái, không hơn không kém. Mỗi cái vỗ tay ấy là một tiếng. Cách đếm này hiệu quả vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập: người nói tự nhiên ngắt lời thành từng khúc âm rõ ràng, và khi viết, mỗi khúc lại được tách bằng một khoảng trắng.
Sách Tiếng Việt tiểu học dạy rằng tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ. Từ một tiếng là từ đơn (nhà, đi, xanh); từ hai tiếng trở lên là từ phức (nhà cửa, xanh xao, hợp tác xã). Muốn xem kĩ phần từ đơn, từ phức, có thể đọc bài giải nghĩa khái niệm từ trong tiếng Việt.
Ngoài giờ học, chữ tiếng còn nhiều nghĩa quen thuộc. Từ điển ghi: tiếng là cái tai nghe được (tiếng chim, tiếng mưa); là một thứ ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh); là giọng riêng của một người hay một vùng (nhận ra tiếng mẹ, tiếng miền Trung); là lời khen chê của người đời (mang tiếng, được tiếng hiếu thảo); và trong khẩu ngữ, là một giờ đồng hồ (đợi hai tiếng). Bài này nói về nghĩa ngữ pháp, tức tiếng như một đơn vị của từ.
Âm đầu, vần, thanh: tách một tiếng ra sao?
Lấy tiếng bầu. Đọc chậm sẽ nghe ba phần: một phụ âm mở đầu “b”, một khối âm phía sau “âu”, và một cao độ đi xuống của dấu huyền. Ba phần ấy có tên gọi riêng:
- Âm đầu: phụ âm đứng đầu tiếng, như b trong bầu, th trong thương, ngh trong nghe. Phần này có thể vắng mặt.
- Vần: phần còn lại sau âm đầu, như âu, ương, e. Vần lại có thể chia nhỏ thành âm đệm (u, o trong tuy, hoa), âm chính (nguyên âm, bắt buộc) và âm cuối (như ng trong thương).
- Thanh: độ cao và đường nét giọng của cả tiếng. Tiếng Việt có sáu thanh: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Thanh ngang không ghi dấu; dấu nặng đặt dưới, các dấu còn lại đặt trên.
Quy tắc cần nhớ nhất: tiếng nào cũng phải có vần và thanh, còn âm đầu thì có thể không có. Tiếng ơi, ăn, anh, yêu đều thiếu âm đầu nhưng vẫn là tiếng trọn vẹn. Ngược lại, không có tiếng nào thiếu vần.
| Tiếng | Âm đầu | Vần | Thanh |
|---|---|---|---|
| bầu | b | âu | huyền |
| ơi | (không có) | ơi | ngang |
| thương | th | ương | ngang |
| giống | gi | ông | sắc |
| khuya | kh | uya | ngang |
Hai chỗ hay sai khi tách: gi, ngh, kh, th, ch, nh, ph, tr, qu là một âm đầu dù viết bằng hai, ba chữ cái; và dấu thanh không thuộc vần, phải ghi riêng ở cột thanh. Bài đặc điểm và cấu trúc âm tiết tiếng Việt phân tích phần vần sâu hơn cho ai muốn đi tiếp.
Tiếng có nghĩa và tiếng không tự mang nghĩa
Không phải tiếng nào đứng một mình cũng mang nghĩa. Có thể chia làm hai nhóm:
Tiếng có nghĩa rõ: nhà, mưa, ăn, đẹp. Đứng riêng vẫn hiểu được, và thường tự làm thành từ đơn.
Tiếng không tự mang nghĩa, hoặc nghĩa đã mờ: lanh trong long lanh, lẽo trong lạnh lẽo, nhắn trong nhỏ nhắn. Những tiếng này chỉ có nghĩa khi đi cùng tiếng kia, và phần lớn xuất hiện trong các kiểu từ láy quen gặp. Một số tiếng Hán Việt như quốc, gia, thủy cũng ít khi đứng một mình trong câu nói thường ngày, nhưng vẫn mang nghĩa và ghép rất dễ (quốc gia, thủy thủ).
Cách phân chia này giúp ích khi làm bài tách từ: gặp một tiếng “lạc nghĩa” như lẽo, gần như chắc chắn nó phải dính vào tiếng bên cạnh để làm thành một từ.
Tiếng, từ, chữ, âm tiết: bốn tên gọi dễ lẫn
| Tên gọi | Nhìn từ góc nào | Ví dụ với “hợp tác xã” |
|---|---|---|
| Tiếng | Đơn vị cấu tạo từ, tên gọi dùng trong sách Tiếng Việt tiểu học | 3 tiếng: hợp / tác / xã |
| Âm tiết | Đơn vị ngữ âm, tên gọi của ngôn ngữ học | 3 âm tiết, trùng với 3 tiếng |
| Chữ | Hình thức viết của một tiếng giữa hai khoảng trắng | 3 chữ (khi nói “câu thơ bảy chữ” là nói bảy tiếng) |
| Từ | Đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, dùng để đặt câu | 1 từ phức gồm 3 tiếng |
Cột thứ ba cho thấy một điều quan trọng: số tiếng và số từ thường không bằng nhau. Câu “Em học bài” có ba tiếng và ba từ; câu “Bạn bè đến thăm” có bốn tiếng nhưng chỉ ba từ, vì bạn bè là một từ. Còn gọi “tiếng” hay “âm tiết” thì cùng chỉ một đơn vị, chỉ khác là tên dùng trong lớp học hay trong sách ngôn ngữ học.
Đếm tiếng trong lục bát và thơ Đường luật
Luật thơ Việt được tính bằng tiếng, vì vậy đọc thơ là chỗ thực hành khái niệm này rõ nhất.
Lục bát: sáu tiếng, tám tiếng
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Hai câu mở đầu Truyện Kiều có đúng 6 và 8 tiếng. Tiếng thứ sáu câu lục là ta hiệp vần với tiếng thứ sáu câu bát là là: hai tiếng chung phần vần “a”, chỉ khác thanh. Vậy là khi nói “gieo vần”, người ta đang so phần vần của hai tiếng, không so cả từ. Bài vần chân, vần lưng và cách nhận biết có nhiều ví dụ hơn về chuyện này.
Thất ngôn: bảy tiếng mỗi dòng
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Câu đầu bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến có bảy tiếng, đúng khuôn thơ thất ngôn. Trong bảy tiếng ấy chỉ có sáu từ, vì lạnh lẽo là một từ láy hai tiếng. Tiếng veo cuối câu mở ra vần “eo” chạy suốt bài (teo, vèo, bèo), và chính phần vần của từng tiếng làm nên âm hưởng hắt hiu ấy.
Có một tên bài thơ cũng chơi với nghĩa khác của chữ: Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Ở đó “tiếng” là âm thanh, không phải đơn vị cấu tạo từ. Đề đọc hiểu đôi khi hỏi cả hai nghĩa trong cùng một bài, xem bài soạn Tiếng thu sách Chân trời sáng tạo.
Bốn bài luyện tách tiếng có đáp án
Câu 1: Câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” có bao nhiêu tiếng?
Đáp án: 14 tiếng, gồm 6 tiếng ở câu trên và 8 tiếng ở câu dưới. Đây là cặp lục bát nên số tiếng cố định theo thể thơ.
Câu 2: Tách âm đầu, vần, thanh của các tiếng: nghé, uống, quả, trăng.
Đáp án: nghé: âm đầu ngh, vần e, thanh sắc. uống: không có âm đầu, vần uông, thanh sắc. quả: âm đầu qu, vần a, thanh hỏi. trăng: âm đầu tr, vần ăng, thanh ngang. Lưu ý qu được tính là một âm đầu theo cách dạy ở tiểu học.
Câu 3: Trong các tiếng sau, tiếng nào không có âm đầu: ánh, xa, ở, im, hoa?
Đáp án: ánh, ở, im. Ba tiếng này chỉ có vần và thanh. Xa có âm đầu x; hoa có âm đầu h, vần oa.
Câu 4: Câu “Mẹ em đi chợ mua rau muống” có bao nhiêu tiếng, bao nhiêu từ?
Đáp án: 7 tiếng nhưng chỉ 6 từ: mẹ / em / đi / chợ / mua / rau muống. Rau muống là tên một loại rau, hai tiếng gắn thành một từ, không tách ra được mà giữ nguyên nghĩa.
Tiếng trong giờ Tiếng Việt và trên đồng hồ
Tiếng là gì lớp 4 và lớp 1 khác nhau không?
Khái niệm vẫn là một. Lớp 1 tập đánh vần, ghép âm với vần để đọc thành tiếng. Lớp 4 gọi tên ba bộ phận âm đầu, vần, thanh và làm bài phân tích cấu tạo của tiếng, nên yêu cầu chính xác hơn.
Tiếng và từ khác nhau như thế nào?
Tiếng là đơn vị để cấu tạo, từ là đơn vị để dùng. Một từ có thể chỉ có một tiếng (sách) hoặc nhiều tiếng (sách vở). Đếm tiếng thì dựa vào khoảng trắng; đếm từ thì phải xét nghĩa.
Có tiếng nào thiếu thanh không?
Không. Tiếng không ghi dấu như ma, xanh vẫn mang thanh ngang. Chính vì thanh luôn có mặt nên đổi thanh là đổi nghĩa: ma, má, mà, mả, mã, mạ.
Một tiếng đồng hồ là bao lâu?
Là một giờ, tức 60 phút. Đây là nghĩa khẩu ngữ, được từ điển ghi thành một mục riêng: “đợi mất hai tiếng”, “làm thêm một tiếng nữa”. Trong văn bản hành chính nên viết “giờ” cho trang trọng.