Thu về trên tóc/ Đông đọng trong hồn/ Nhổ được tóc bạc/ Nhổ chăng nỗi buồn? (Hỏi mình - Phạm Đức)
Gửi thư    Bản in

Con chim đang giang cánh mỏi

Hải Thanh - 06-01-2012 11:12:36 AM

VanVN.Net - Những ngày cuối năm 2010, nhà văn Hoàng Bình Trọng đã phải nhiều lần chuyển viện từ bệnh viện Quảng Trạch vào bệnh viện Việt Nam - Cu Ba ở Đồng Hới để điều trị. Sắp lên tuổi thất thập cổ lai hy đau ốm là lẽ thường. Nhưng nguyên nhân hiện trạng sức khỏe của ông có nhiều. Quá khứ nhọc nhằn, truân chuyên của một đời người và cả nỗi bất hạnh đắng cay đến nghiệt ngã đã tích tụ để bắt kiếp sống của ông bây giờ như con chim đang giang cánh mỏi.

Quê Quảng Bình nhưng ông sinh tại Sài Gòn, khi bố ông vào làm thông ngôn cho một công ty của người Pháp. Có lẽ cũng từ ông bố giỏi chữ nghĩa ấy mà Hoàng Bình Trọng đã rất giỏi Pháp văn và Hán văn từ nhỏ.

Nhà văn Hoàng Bình Trọng. Ảnh L.Đ.Dục

Mười tám tuổi, ông vào Đại học Mỏ - địa chất, ngành trắc đạc bản đồ, ra trường làm anh kỹ sư địa chất tài hoa, rồi rong ruổi khắp miền Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc… để lập những tấm bản đồ tỉ lệ 1/500.000. Chính trong những ngày rong ruổi khắp những cánh rừng Tây Bắc đi tìm khoáng sản ấy, chàng kỹ sư trẻ Hoàng Bình Trọng đã bắt tay viết những câu chuyện cho thiếu nhi, khơi dậy những ước mơ khám phá chân trời khoa học của tuổi trẻ. Đó là cuốn “Bí mật một khu rừng”. Có bao nhiêu cậu bé trên đất nước này một thời đã mơ mộng trở thành những chàng kỹ sư địa chất trong truyện như Hoàng, Trung, Tuyên… trên đường đi tìm quặng apatit đã giải thoát cho cô gái A Nhi xinh đẹp bị lão thầy mo Đèo Văn Sằn vu cho là “ma gà”, như chàng hoàng tử giải cứu công chúa trong truyện cổ tích xưa.

Nhưng hấp dẫn và thú vị hơn bởi những bí mật khoa học của những quặng, vẻ đẹp nguyên sinh của thiên nhiên, những câu chuyện hấp dẫn của rừng xanh… qua vốn kiến thức phong phú của chàng kỹ sư địa chất Hoàng Bình Trọng đã thắp lên trong lòng nhiều cậu học trò ước mơ được làm nghề địa chất, đi tìm tài nguyên làm giàu cho đất nước. Tình yêu Tổ quốc trong mỗi đứa trẻ ngày đó đã bắt đầu với những trang sách như thế. Cuốn “Bí mật một khu rừng” với bốn lần tái bản, lần in thứ hai (năm 1976) lên đến 100.000 bản. Cuốn truyện được dịch ra tiếng Nga và in ở Nhà xuất bản thiếu nhi Matxcơva. Hiện nay “Bí mật một khu rừng” được in lại và xếp trong “Tủ sách vàng” các tác phẩm chọn lọc dành cho thiếu nhi của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Đất nước chiến tranh. Chàng kỹ sư địa chất tình nguyện vào lính. 5 năm ở chiến trường B và nước bạn Lào. Hết chiến tranh, năm 1976 phục viên, ông quay lại với nghề địa chất nhưng ở một vị trí khác, làm giảng viên của Trường Trung cấp Mỏ - địa chất. Tuy nhiên nghề văn vẫn là nỗi mê đắm thiêng liêng của ông.

Xin liệt kê ra đây những tác phẩm sau “Bí mật một khu rừng” mà nhà văn Hoàng Bình Trọng đã ra mắt độc giả: “Quanh chỗ anh nằm”, “Những tấm lòng yêu thương”, “Vầng trăng cuộc đời”, “Thung lũng tam đài”, “Quê hương”, “Cuộc săn đuổi vàng”, “Ký ức thời gian”, “Con đường định mệnh”, “Về với mẹ”, “Thức tỉnh”. Các tập truyện ngắn: “Tổ chim trên sóng”, “Ngày về”, “Trên một chuyến đò”. Về thơ, gồm các tập “Những miền ký ức”, “Tiếng hát quê nhà”, “Khúc ca cây nến”. Nhân 100 năm tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã cho ra đời tập Trường ca về Đại tướng Giáp. Chưa kể hàng trăm bài báo khảo cứu về câu đối, sưu tầm về những mẩu chuyện lịch sử đông tây kim cổ. Nhiều tác phẩm trong số những tác phẩm ấy đã được giải của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật Vĩnh Phú, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình.

Nhưng câu chuyện đời ông cũng sẽ như bao nhà văn khác nếu không có giai đoạn tuổi 50 đắng đót ngậm ngùi.

Số là, khi ông đã là nhà văn tên tuổi, Hội Văn học tỉnh Vĩnh Phú (nay là hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc), mời ông về làm việc ở tạp chí văn học Đất Tổ. Công việc của một tạp chí văn học hàng tỉnh cũng sẽ giữ chân ông ở lại với miền trung du này nếu không có sự kiện hàng loạt tỉnh lớn được tách ra, tái lập theo địa giới cũ (tỉnh Bình Trị Thiên cũng chia thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế). Với tâm thế của một đứa con xa quê mấy chục năm, lúc xế bóng, ai cũng muốn về với quê cha đất tổ. Vậy là sau bao nhiêu năm làm kỹ sư, cán bộ nhà nước, từng giữ cương vị liên đoàn phó Liên đoàn địa chất Mạo Khê, phụ trách đến 600 cán bộ nhân viên, từng là nhà văn tên tuổi, phó Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú, ông đã trở về quê hương, không muốn ngâm mình trong cảnh nhốn nháo tranh giành quyền vị buổi giao thời. Ông xin về chế độ 176, nghĩa là nhận “một cục” trọn gói chừng đâu gần 2 triệu đồng, rồi về với miền đất gió Lào cát trắng.

Về quê, số tiền chế độ như gió vào nhà trống. May có người anh ruột là nhà giáo Hoàng Hiếu Nghĩa cho mảnh đất dựng túp lều để vợ chồng và đứa con nhỏ tá túc qua ngày. Nhà văn, tác giả “Bí mật một khu rừng” nức tiếng ngày nào không có công ăn việc làm, đành vào rừng, dân ở đây gọi là rú Thọ Linh để đốn củi về bán ở chợ làng kiếm sống.

Một lần, trên có lệnh thu thuế “cửa rừng” mà ông không biết. 500 đồng một gánh củi, không có tiền, bị kiểm lâm giữ lại, ông nhắn người, nhờ vợ ở nhà mang tiền lên nộp. Trong lúc chờ đợi, nghe mấy chàng kiểm lâm đọc thơ Bút Tre nhưng không hề vần vè, “tức khí” ông bèn đọc cho cả hội nghe một mạch mấy chục bài thơ Bút Tre thứ thiệt đến Bút Tre dị bản. Tổ kiểm lâm lấy làm ngạc nhiên, sao có ông già đi củi lại thuộc thơ phú làu làu như thế!

Biết ông ở Quảng Hòa, họ hỏi có biết nhà văn Hoàng Bình Trọng rất nổi tiếng ở  đấy không. Đang trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, ông không dám nhận là mình, bèn đáp bừa: “Có biết, cái tay Trọng nhà văn ấy giờ khốn khó lắm, cũng đi củi như tui vậy thôi”. Ai nấy đều ngạc nhiên: “Bác lại đùa, làm chi có chuyện nhà văn nổi tiếng như ông nớ mà nghèo!” Đúng lúc ấy, vợ ông mang tiền lên nộp, khai ngay tên chồng là Hoàng Bình Trọng. Tổ kiểm lâm mới ngớ người ra. Rồi sau khi biết ông tiều phu này đích thị là nhà văn, họ ngưỡng mộ bèn điều hẳn một xe công nông chở về nhà cho ông thêm chục gánh củi !

Thấy ông bạn già khổ quá, lúc bấy giờ, nhà văn Văn Lợi, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Nhật Lệ của Hội Văn nghệ Quảng Bình, một người bạn cũ của Hoàng Bình Trọng, xin cho ông làm hợp đồng biên tập, lương mỗi tháng được 350.000 đ (mấy năm sau mới lên 600.000 đồng). Để có thể dành dụm tiền gửi về cho vợ nuôi con, ông tự đi chợ, nấu nướng, thui thủi một mình ở gian sau của cơ quan. Nhiều bạn văn chương ghé thăm vô cùng ngạc nhiên và xót xa khi thấy ông sống trong căn phòng bé tí, với chiếc gường gỗ 8 tấc, 2 cái soong nhỏ, 1 dùng để nấu cơm, 1 dùng để nấu canh. Mười ba năm trời đằng đẵng như thế, cuối cùng, khi tạp chí Nhật Lệ có biên chế mới, ông đâm “thừa”, đành lòng lại trở về quê.

Cũng cần kể ra đây một sự kiện trong cuộc sống nhao nhác ấy của ông. Biết ông là người đang có năng lực và một bề dày thời gian cống hiến cho cách mạng, UBND tỉnh Quảng Bình đã cấp giấy giới thiệu cho ông quay trở lại cơ sở cũ để hoàn trả tiền chế độ nghỉ 176. Và, nếu được thì sẽ đưa ông vào biên chế làm việc ở Hội Văn học - nghệ thuật Quảng Bình. Mừng khấp khởi, ông vác tiền chạy ra Bắc. Nhưng, cơ quan cũ của tỉnh Vĩnh Phú đâu còn. Hết chạy lên Phú Thọ lại chạy về Vĩnh Phúc. Lãnh đạo cũ thì có người về hưu, có người chuyển công tác. Không ai dám đứng ra giải quyết chuyện tồn lưu của tỉnh Vĩnh Phú cũ. Giữa những ngày hè nóng nực của năm 1992 ấy, tiền đâu cho xuể khi phải làm con thoi giữa hai tỉnh, rồi ăn cơm hàng và nghỉ nhà trọ hàng tháng để chực chờ giải quyết một điều vô vọng. Thế là, nhà văn Hoàng Bình Trọng đành trở về Quảng Bình sống bằng đồng lương hợp đồng ít ỏi và nhuận bút còm cõi viết cho các báo khắp cả nước.

Ông cũng không đòi hỏi gì thêm cho mình, cứ lặng lẽ sống, thi thoảng trong ánh mắt hóm hỉnh và thông tuệ kia lại lóe lên chút u buồn nhân thế.

Nhà thơ đã “tự trào” về mình trong những vần thơ hóm hỉnh:“Tớ không có chí làm vua/ Nên trời bắt tớ cày bừa ruộng văn/Thôi thì tứ đốm, tám khoanh/Chậm gieo truyện ngắn, gặt nhanh truyện vừa/ Lại còn tiểu thuyết, còn thơ/Lại còn dịch diệt ăng ô Tây Tàu”.

Là một người sống, không màng công danh, phú quý, nhà văn Hoàng Bình Trọng đã giãi bày điều này trước mọi người: “Lắm cây, lắm chỉ thì giàu/ Lắm câu , lắm chữ nhọc đau tình đời/ Khi ta khóc, thiên hạ cười/Nơi ta tôn trọng, thì người khinh khi/Cầu danh, danh chẳng ra gì /Quay ra cầu lợi, lợi thì tránh xa/.

Như con thuyền buồm đã căng gió, chỉ có đích phía trước là làm thơ, viết văn, nhà văn Hoàng Bình Trọng đã quyết: Thôi đành chơi nốt cuộc chơi/khỏi cần tính chuyện với người được thua !

Về quê sống trên mảnh đất của anh trai là Hoàng Hiếu Nghĩa san cho, viết văn, làm thơ, dịch truyện là hạnh phúc của Hoàng Bình Trọng. Ông đã nói điều đó trong bài “Hạnh phúc” của mình:

“Ta đành lòng về với cõi đời riêng/Riêng nỗi dại khờ, riêng niềm đói rách/Dò dẫm bước trên con đường tự vạch/ Ta tìm thấy bóng hình mình trong những vết thương sâu”.

Cũng nỗi niềm đó, trong bài “Tự hát”, nhà văn Hoàng Bình Trọng đã viết những dòng thắm đầy nước mắt của mình:

“Tóc xanh đã ngả màu mây /Chân son đã rạn, gót dày trường chinh/Vẫn chưa hết cuộc hành trình/Vẫn nghe mình gọi tên mình nơi xa/ Thì đi cho hết bài ca /Đi cho tiếng nấc bật  ra tiếng cười /Thì đi cho trọn đạo đời/ Cho lời hẹn ước thành lời sắt son”.

Lẽ ra với những gì đã cống hiến, có thể bây giờ ông đã an nhàn với một cuốn sổ hưu. Nhưng ông đã chọn cho mình con đường này và âm thầm chịu những eo sèo áo cơm sinh kế mỗi ngày. Vẫn nhẫn nại viết, dịch và gửi các báo với mục tiêu kiếm cho được… 1 triệu đồng nhuận bút mỗi tháng! Có điều, dù cuộc đời gieo neo đến mấy, ông vẫn bình thản mỉm cười.

Nhà văn Hoàng Bình Trọng đang lận đận chữa bệnh. Quy luật tạo hóa bao giờ cũng vẫn lạnh lùng, cay nghiệt với mọi kiếp người. Hoàng Bình Trọng vẫn viết, vẫn dịch trên giường bệnh để nuôi sống mình. Tôi hình dung, ông như con chim đang giang cánh mỏi. Và kết thúc bài viết này, xin trích ra đây một khúc tự tình, không, đó tiếng nấc đầy ai oán của ông trước cuộc đời đầy bất hạnh, bể dâu của mình: “Đã không chịu sống cúi luồn/Ai còn so đọ thiệt hơn đường đời/ Đã lầm một kiếp làm người/ Thì đi cho hết trận cười bể dâu/ Dẫu còn nắng lửa, mưa dầu/ Dẫu còn núi thẳm, sông sâu, dẫu còn…”

Nhà văn Hoàng Bình Trọng sinh năm 1942. Quê quán: Thanh Khê, Thanh Trạch, Bố Trạch.

Tác Phẩm đã xuất bản: Câu hát quê nhà (thơ); Những miền ký ức (thơ); Khúc ca cây nến (thơ); Người anh cả của toàn quân (trường ca về tướng Giáp) và tám tập tiểu thuyết: Bí mật một khu rừng; Quanh chỗ anh nằm; Những tấm lòng yêu thương; Vầng trăng cuộc đời; Cuộc săn đổi vàng; Quê hương; Tổ chim trên sóng; Về với mẹ; Thức tỉnh; với hai tập truyện và hai tác phẩm dịch khác.

Giải thưởng văn học: Giải của Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cho tiểu thuyết Những tấm lòng yêu thương (1982) và trường ca Người anh cả của toàn quân (2010); giải do UBTQ LHCH VHNT Việt Nam cho tiểu thuyết Tổ chim trên sóng cùng nhiều giải thưởng khác nữa.

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Các tin mới hơn