Mục tiêu cá nhân là cái đích một người tự đặt ra cho chính mình, về học tập, sức khỏe, công việc, các mối quan hệ hay thói quen, kèm một mốc thời gian để biết lúc nào thì tới. Khác với chỉ tiêu do lớp hay công ty giao, mục tiêu cá nhân do mình chọn và mình chịu trách nhiệm. “Đọc hết 12 cuốn sách trong năm nay” là một ví dụ; “trở thành người giỏi” thì chưa phải.
| Nghĩa ngắn | Đích cụ thể một người tự đặt cho bản thân để hướng tới trong một khoảng thời gian |
| Cấu tạo | Mục tiêu (目標, đích cần đạt tới) + cá nhân (個人, một người riêng lẻ) |
| Đối lập | Mục tiêu tập thể, mục tiêu của tổ chức |
| Thường gặp ở | Sổ tay học sinh, hồ sơ xin việc, buổi đánh giá cuối năm |

Mục tiêu cá nhân là đích của riêng ai?
Chữ mục tiêu trong từ điển có nghĩa gốc là chỗ, điểm để nhắm vào, như khi bắn súng; nghĩa thứ hai là cái đích cần đạt tới khi làm một việc. Thêm cá nhân vào sau, cụm từ khoanh lại chủ thể: đích này của tôi, do tôi đặt, không phải của cả lớp hay cả phòng ban.
Điểm phân biệt ấy nghe đơn giản nhưng quan trọng. Cô chủ nhiệm đề ra “lớp không có học sinh yếu” là mục tiêu tập thể. Một bạn trong lớp tự nhủ “học kì này mình kéo môn Toán lên 7” là mục tiêu cá nhân, dù nó góp vào cái đích chung. Trong công ty cũng vậy: doanh số của phòng là mục tiêu nhóm; học xong một chứng chỉ để làm tốt hơn là mục tiêu riêng của người nhân viên.
Ý nghĩa chung của chữ mục tiêu, cùng chỗ khác với mục đích, đã có ở bài chữ mục tiêu 目標 và cách đặt đích cho rõ. Bài này chỉ bàn phần “cá nhân”: một người nên đặt đích cho mình thế nào, và vì sao nhiều đích bị bỏ dở giữa chừng.
Một mục tiêu cá nhân rõ ràng trông ra sao?
Mục tiêu cá nhân tốt thường có ba dấu hiệu dễ thấy. Thứ nhất, đọc lên là biết phải làm gì vào ngày mai. Thứ hai, có con số hoặc kết quả kiểm được. Thứ ba, có hạn chót. Đặt hai câu cạnh nhau sẽ thấy rõ:
- Mơ hồ: “Năm nay mình sẽ chăm thể dục hơn.” Rõ: “Mỗi sáng thứ Hai, Tư, Sáu chạy 2 km trước 6 giờ 30, giữ đến hết tháng Mười Hai.”
- Mơ hồ: “Giỏi tiếng Anh.” Rõ: “Đến tháng Năm thi thử đạt 6.0, mỗi tối học 20 từ mới.”
- Mơ hồ: “Bớt dùng điện thoại.” Rõ: “Sau 22 giờ cất điện thoại ngoài phòng ngủ.”
Người ta hay chia mục tiêu cá nhân theo hai trục. Theo thời gian: ngắn hạn (vài tuần, vài tháng), trung hạn (một đến vài năm), dài hạn (nhiều năm). Theo lĩnh vực: học tập, nghề nghiệp, sức khỏe, gia đình và bạn bè, chi tiêu, sở thích. Không cần lĩnh vực nào cũng có mục tiêu; hai ba đích được theo đuổi thật sẽ hơn mười đích viết cho đẹp sổ.
Ai muốn một bộ khung có sẵn để kiểm từng mục tiêu có thể dùng năm tiêu chí trong bài năm tiêu chí của mục tiêu SMART. Người thích hình ảnh hơn chữ có thể dán đích của mình lên tấm bảng ghép ảnh vision board.
Mục tiêu cá nhân, ước mơ và mục đích sống khác nhau thế nào?
| Khái niệm | Độ cụ thể | Ví dụ |
|---|---|---|
| Mục đích sống | Rất rộng, trả lời câu “mình sống vì điều gì” | Sống có ích cho người quanh mình |
| Ước mơ | Rộng, giàu cảm xúc, chưa cần lộ trình | Trở thành bác sĩ |
| Mục tiêu cá nhân | Cụ thể, đo được, có hạn | Đạt 26 điểm khối B trong kì thi năm sau |
| Kế hoạch | Chi tiết từng việc, từng ngày | Lịch ôn Sinh mỗi tối thứ Ba và thứ Năm |
Bốn tầng này nối với nhau như cầu thang. Ước mơ cho biết mình muốn lên đâu; mục tiêu cá nhân là từng bậc thang; kế hoạch là cách đặt chân lên mỗi bậc. Người chỉ có ước mơ mà không có mục tiêu dễ ngồi mơ mãi; người có mục tiêu mà quên mất ước mơ thì có lúc chạy rất nhanh về một hướng mình không thật muốn.
Vì sao có người đặt mục tiêu rồi bỏ giữa chừng?
Đặt mục tiêu thì dễ, giữ được tới cuối mới khó. Những lí do hay gặp nhất:
- Mục tiêu vay mượn: đặt theo bạn bè, theo trào lưu đầu năm hoặc theo kì vọng của bố mẹ, nên khi mệt không còn lí do để tiếp tục.
- Quá nhiều cùng lúc: mười đích chia nhau một quỹ thời gian có hạn, cái nào cũng dở dang.
- Đích quá xa, bước quá to: không chia nhỏ thành việc của tuần này, tuần sau.
- Không ai biết, không ghi lại: chẳng có cách nào nhìn lại tiến độ, nên một lần lỡ hẹn thành hai, thành bỏ hẳn.
Ngược lại, khi đích là của chính mình và đủ cụ thể, người ta dễ tập trung hơn, biết từ chối những việc làm mình chệch hướng, và mỗi lần chạm một mốc nhỏ lại có thêm sức. Cũng nên nhớ mục tiêu là để phục vụ người đặt ra nó. Nếu một mục tiêu khiến bạn căng thẳng kéo dài, mất ngủ hay chán nản, hãy nới lại, và nói chuyện với người lớn, thầy cô hoặc chuyên gia tư vấn tâm lý khi cần.
Viết về sống có mục tiêu trong bài nghị luận
Đề nghị luận kiểu “Suy nghĩ của em về việc sống có mục tiêu” hay gặp ở THCS và THPT. Có thể đi theo ba ý: giải thích mục tiêu cá nhân là gì và khác ước mơ ở đâu; vì sao người trẻ cần một đích rõ ràng (biết dùng thời gian, ít bị cuốn theo đám đông); và mặt trái khi chạy theo mục tiêu đến quên sức khỏe, quên người thân. Dẫn chứng nên là một chuyện gần, như một người bạn tự đặt mục tiêu bơi được 25 mét trước hè và làm được, hơn là kể lại tiểu sử người nổi tiếng mà ai cũng đã nghe.
Một lỗi hay thấy trong bài văn: viết “mục tiêu của em là thành công”. Câu ấy là một ước muốn chung, chưa phải mục tiêu cá nhân; thay bằng một con số, một việc, một hạn chót thì đoạn văn có sức hơn hẳn.
Đặt đích cho riêng mình: vài tình huống cụ thể
Ví dụ mục tiêu cá nhân của học sinh là gì?
Một vài ví dụ: đọc mỗi tháng một cuốn sách ngoài chương trình; học kì này điểm trung bình môn Văn đạt 8; tự dậy lúc 6 giờ không cần gọi trong suốt năm học; học bơi xong trước khi hè kết thúc.
Mục tiêu cá nhân trong CV nên viết thế nào?
Mục này thường gọi là mục tiêu nghề nghiệp. Nên viết hai ba câu ngắn: muốn làm vị trí gì, trong một đến ba năm tới muốn đạt được gì, và mục tiêu đó khớp với công việc đang ứng tuyển ra sao. Tránh câu chung chung như “mong muốn học hỏi và phát triển”.
Mục tiêu cá nhân và mục tiêu tập thể có mâu thuẫn không?
Thường là không, nếu khéo đặt. Mục tiêu riêng tốt nhất là cái vừa giúp mình lớn lên vừa góp vào đích chung, như học thêm một kĩ năng mà nhóm đang thiếu. Khi hai bên vênh nhau, cần trao đổi thẳng với nhóm thay vì lặng lẽ bỏ một bên.
Mục tiêu cá nhân tiếng Anh là gì?
Thường dịch là personal goal; trong hồ sơ xin việc hay gặp career objective hoặc professional goal.