Mở bài Độc Tiểu Thanh kí (còn gọi là Đọc Tiểu Thanh kí) là phần mở đầu bài văn phân tích, cảm nhận bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, văn bản học trong sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức và Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo. Một mở bài tốt cần giới thiệu được đại thi hào, nàng Tiểu Thanh tài sắc mà bạc mệnh và tiếng khóc vừa thương người vừa tự thương của nhà thơ. Dưới đây là 14 mẫu mở bài đã viết hoàn chỉnh: trực tiếp, gián tiếp, theo dạng đề và nâng cao.
Để nhận ra dấu ấn cá nhân của người viết trong văn bản này, em có thể đọc giọng văn riêng của Nguyễn Du.

Cách viết mở bài Độc Tiểu Thanh kí
- Giới thiệu Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ Tố Như, nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, và bài thơ Độc Tiểu Thanh kí in trong Thanh Hiên thi tập, một bài thất ngôn bát cú Đường luật.
- Nói ngắn gọn về Tiểu Thanh: người con gái đời Minh giỏi thơ, làm lẽ, bị vợ cả ghen bắt ra ở riêng trên Cô Sơn bên Tây Hồ, mất năm mười tám tuổi, thơ bị đốt gần hết.
- Thời điểm sáng tác còn nhiều ý kiến (trước chuyến đi sứ năm 1813 hay trong chuyến đi ấy), nên chỉ viết thận trọng, không khẳng định một năm cụ thể.
- Nên trích nguyên văn phiên âm (ví dụ hai câu kết) và chép đúng như sách giáo khoa; bản dịch thơ chỉ trích một câu khi thật cần.
- Câu cuối mở bài nêu đúng vấn đề đề bài hỏi: cả bài thơ, hai câu kết, tiếng khóc của nhà thơ hay tư tưởng nhân đạo. Sách Ngữ văn 11 Cánh diều in văn bản với nhan đề Đọc Tiểu Thanh kí.
Mở bài trực tiếp Độc Tiểu Thanh kí
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Độc Tiểu Thanh kí thuộc số những bài xúc động nhất. Chỉ với tám câu thất ngôn, đại thi hào vừa khóc cho nàng Tiểu Thanh tài hoa mà yểu mệnh, vừa bộc bạch nỗi cô đơn của chính mình trước cuộc đời và trước hậu thế.
Mẫu 2 – trực tiếp, đủ tác giả – tác phẩm – vấn đề
Nguyễn Du, tên chữ Tố Như, là nhà thơ lớn bậc nhất của dân tộc, người để lại cả kiệt tác Nôm Truyện Kiều lẫn ba tập thơ chữ Hán giàu tâm sự. Trong số những bài thơ chữ Hán ấy, Độc Tiểu Thanh kí có một vị trí đặc biệt. Bài thơ gồm tám câu theo luật Đường, kể chuyện nhà thơ ngồi đọc những trang di cảo của một cô gái Trung Hoa sống cách mình chừng ba thế kỉ. Từ nỗi xót xa cho Tiểu Thanh, Nguyễn Du đi tới một nhận thức chua chát về cảnh ngộ của kẻ mang tài trong xã hội cũ, rồi quay lại tự hỏi về chính mình. Tấm lòng thương người và thương mình ấy là vấn đề bài viết sẽ làm rõ.
Mẫu 3 – từ xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
Độc Tiểu Thanh kí được xếp trong Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du. Về thời điểm ra đời, các nhà nghiên cứu chưa thống nhất: có ý kiến cho rằng ông viết khi còn ở trong nước, trước chuyến đi sứ năm 1813, có ý kiến lại gắn bài thơ với hành trình sang phương Bắc. Điều chắc chắn là nhà thơ đã đọc phần thơ còn sót lại của Tiểu Thanh, cô gái đời Minh bị người vợ cả đố kị, bắt ra sống quạnh hiu bên Tây Hồ rồi lìa đời ở tuổi mười tám. Từ những trang giấy ấy, Nguyễn Du viết nên một bài thơ thấm đẫm nước mắt, vừa thương xót người xưa vừa gửi gắm nỗi niềm thầm kín của mình.
Mở bài gián tiếp Độc Tiểu Thanh kí
Mẫu 4 – từ đề tài hồng nhan bạc mệnh
Thơ văn trung đại nước ta có nhiều trang thương xót những người đàn bà phải sống trong cô đơn, lận đận: người cung nữ của Cung oán ngâm khúc, người vợ trong Chinh phụ ngâm, nàng Thúy Kiều của Truyện Kiều. Nguyễn Du là người viết về họ với nhiều nước mắt nhất, và sự đồng cảm của ông không dừng ở biên giới quê hương. Trong bài thơ chữ Hán Độc Tiểu Thanh kí, ông khóc cho một cô gái Trung Hoa ba trăm năm trước, người có thơ hay mà bị ghen ghét, bị đốt cả văn chương. Qua bài thơ, ta hiểu thêm chiều sâu tư tưởng nhân đạo của đại thi hào.
Mẫu 5 – từ Truyện Kiều sang thơ chữ Hán
Nói đến Nguyễn Du, phần đông chúng ta nhớ ngay tới Truyện Kiều với hơn ba nghìn câu lục bát đã đi vào lời ăn tiếng nói của người Việt. Thế nhưng muốn gặp con người riêng tư của đại thi hào, người đọc phải tìm đến mảng thơ chữ Hán, nơi ông ít khi kể chuyện người khác mà thường tự nói về mình. Độc Tiểu Thanh kí là một bài thơ như thế. Mượn chuyện đọc di cảo của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du bày tỏ niềm thương cảm cho những kiếp tài hoa bị vùi dập, đồng thời thổ lộ nỗi lo âu không biết đời sau có ai thấu hiểu mình.
Mẫu 6 – từ cuộc đời nàng Tiểu Thanh
Năm mười sáu tuổi, Tiểu Thanh về làm lẽ một công tử họ Phùng. Người vợ cả hay ghen bắt nàng ra ở một mình trên Cô Sơn, sát bên Tây Hồ. Buồn khổ sinh bệnh, nàng mất năm mười tám tuổi; thơ nàng viết lúc sống lại bị đem đốt, chỉ sót vài bài được người sau chép lại. Câu chuyện đau lòng ấy đến với Nguyễn Du qua những trang sách cũ, và ông đã viết bài thơ Độc Tiểu Thanh kí như một nén hương viếng người xưa. Có điều, khi khóc Tiểu Thanh, nhà thơ cũng đang khóc cho chính mình, cho những ai mang nặng tài tình giữa cõi đời bạc bẽo.
Mẫu 7 – từ nhận định của Xuân Diệu
Bàn về nỗi cô đơn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Xuân Diệu dùng một hình ảnh rất gợi: tiếng chim lẻ loi kêu giữa đêm thu khuya. Đó là cảm giác của một người nghệ sĩ lớn thấy mình lạc lõng giữa thời đại, không tìm được người tri âm. Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí cho thấy rõ nỗi cô đơn ấy. Nguyễn Du tìm thấy một tâm hồn đồng điệu ở nàng Tiểu Thanh đã khuất từ ba thế kỉ trước, rồi băn khoăn hướng về ba thế kỉ sau, không biết có ai nhỏ lệ cho mình. Đi vào bài thơ là đi vào thế giới nội tâm sâu kín ấy.
Mẫu 8 – từ câu thơ mở đầu bài thơ
Mở đầu bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du viết: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư”. Khu vườn ven Tây Hồ, nơi từng in dấu một giai nhân giỏi thơ, nay chỉ còn là bãi hoang. Một câu thơ bảy chữ đã gói cả cái nhìn dâu bể của nhà thơ: cảnh đẹp không bền, người đẹp càng mong manh. Từ không gian hoang phế ấy, Nguyễn Du lặng lẽ viếng Tiểu Thanh bên trang sách, rồi để nỗi thương người dẫn tới những suy tư về số phận người tài và về chính bản thân mình. Đó là mạch cảm xúc cần làm rõ khi phân tích bài thơ.
Mẫu 9 – từ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du
Người xưa từng khen Nguyễn Du có con mắt nhìn thấu cả cõi nhân sinh và tấm lòng nghĩ tới muôn đời. Tấm lòng ấy không chỉ dành cho những con người ông gặp trên đường đời, mà còn vươn tới cả những người đã khuất từ rất lâu. Độc Tiểu Thanh kí là minh chứng cảm động: đại thi hào lật giở mấy bài thơ may mắn còn lại của nàng Tiểu Thanh đời Minh mà rơi nước mắt như khóc người thân. Tám câu thơ Đường luật ngắn gọn mà mở ra cả một quan niệm nhân đạo mới mẻ: biết xót thương cho cái tài, cái đẹp bị vùi dập và dám tự thương mình.
Mẫu 10 – so sánh với Truyện Kiều và Long thành cầm giả ca
Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều đứng trước nấm mồ vô chủ của Đạm Tiên mà khóc cho một ca nhi tài sắc bạc mệnh. Trong Long thành cầm giả ca, Nguyễn Du ngậm ngùi trước số phận người nữ nghệ sĩ gảy đàn đất Thăng Long từng một thời lừng lẫy. Mạch cảm hứng ấy còn trở lại trong Độc Tiểu Thanh kí, khi nhà thơ viếng Tiểu Thanh qua mấy trang di cảo. Nhưng ở bài thơ này, giọng thơ riêng tư hơn cả: kẻ viếng và người được viếng như nhập làm một, để cuối cùng nhà thơ tự hỏi về số phận của chính mình. Đó là nét đặc sắc làm nên giá trị của bài thơ.
Mở bài Độc Tiểu Thanh kí theo đề thường gặp
Mẫu 11 – cho đề phân tích hai câu kết
Có những câu thơ càng đọc càng thấy nặng lòng, như hai câu khép lại bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Sau sáu câu dành cho Tiểu Thanh, nhà thơ bất ngờ gọi tên chữ của mình và gửi một câu hỏi tới tận ba trăm năm sau. Câu hỏi ấy chứa nỗi cô đơn của người không tìm thấy tri âm ở thời mình, đồng thời là niềm khao khát được thấu hiểu rất con người. Bài viết sau sẽ phân tích hai câu kết để thấy tâm sự sâu kín ấy.
Mẫu 12 – cho đề phân tích tiếng khóc thương người, thương mình
Thơ trung đại vốn trọng cái chung, ít khi để nhà thơ nói thẳng nỗi đau riêng. Vậy mà trong Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du đã khóc thành tiếng: khóc nàng Tiểu Thanh có tài thơ mà bị ghen ghét, khóc cho những mối hận xưa nay không thể hỏi trời, rồi khóc cho chính mình, một kẻ cũng mang cái tội phong nhã giữa đời. Tiếng khóc ấy đi từ người sang mình, từ một số phận tới cả một lớp người, làm nên chiều sâu nhân đạo hiếm có. Phân tích tiếng khóc trong bài thơ là con đường ngắn nhất để hiểu tấm lòng Nguyễn Du.
Mẫu 13 – cho đoạn văn ghi lại cảm nghĩ
Lần đầu đọc bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du trong giờ Ngữ văn, em chỉ nghĩ đó là bài viếng một cô gái xa lạ. Đọc kĩ phần dịch nghĩa, em mới thấy thương Tiểu Thanh: giỏi thơ, xinh đẹp mà phải chết trẻ, thơ còn bị đốt. Câu cuối khiến em nhớ mãi: “Người đời ai khóc Tố Như chăng?”. Dưới đây là cảm nghĩ của em về nỗi buồn và tấm lòng của nhà thơ.
Mở bài Độc Tiểu Thanh kí nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – văn chương và sự tri âm vượt thời gian
Người viết nào cũng mong tìm được một người đọc hiểu mình, dù người đó sống cùng thời hay ở mãi mai sau. Nguyễn Du đã tìm thấy tri âm theo hướng ngược lại: ông lần giở trang thơ sót lại của Tiểu Thanh, một cô gái đã thành người thiên cổ, và nhận ra mình cùng chung một nỗi oan với nàng. Bài thơ chữ Hán Độc Tiểu Thanh kí ra đời từ cuộc gặp gỡ lạ lùng ấy. Tám câu thơ vừa là lời viếng người xưa, vừa là bản cáo trạng kín đáo đối với một xã hội không có chỗ cho cái tài, vừa là lời tự vấn day dứt của nhà thơ trước hậu thế. Đọc bài thơ, ta thấy Nguyễn Du không chỉ là người thương người, mà còn là người dám đòi quyền được thương cho chính những người làm văn chương.
Nên chọn mẫu mở bài Độc Tiểu Thanh kí nào?
Các mẫu mở bài Độc Tiểu Thanh kí ở trên đều giới thiệu Nguyễn Du, nàng Tiểu Thanh và tiếng khóc thương người, thương mình, nhưng đi từ những ngả khác nhau. Đề phân tích cả bài nên dùng mẫu trực tiếp đầy đủ hoặc mẫu gián tiếp; đề hai câu kết hay tiếng khóc của nhà thơ thì chọn mẫu theo dạng đề. Bài thi học sinh giỏi có thể dùng mẫu nâng cao. Dù chọn mẫu nào, em nên viết lại bằng lời của mình và chép đúng câu thơ phiên âm.
Ngoài văn bản trong sách, em có thể đọc thêm tuyển tập thơ Nguyễn Du để thấy rõ đề tài quen thuộc của tác giả.
Xem thêm:
- Soạn bài Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) – Ngữ văn 11
- Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí: dàn ý và bài văn mẫu
- Độc Tiểu Thanh kí: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Mở bài Trao duyên (Nguyễn Du) hay nhất
- Kết bài Độc Tiểu Thanh kí (Đọc Tiểu Thanh kí) hay nhất – 13 mẫu chọn lọc