Soạn bài Sống chết mặc bay dưới đây bám theo hệ thống câu hỏi của sách Ngữ văn 7 tập hai chương trình cũ (phần Đọc – hiểu văn bản trang 81 – 82, Luyện tập trang 83). Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn không còn là văn bản đọc chính trong sách Ngữ văn 2018 nhưng vẫn hay được dùng làm ngữ liệu đọc hiểu, nhất là khi học về phép tương phản và tăng cấp. Các bài học khác của khối 7 xem ở chuyên mục Ngữ văn lớp 7.
Tìm hiểu chung về truyện Sống chết mặc bay
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm vài thông tin về tác giả, xuất xứ và nội dung chính của truyện.

Tác giả Phạm Duy Tốn
Phạm Duy Tốn (1883 – 1924) sinh ở Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ. Ông học trường Thông ngôn, từng làm thông ngôn, dạy học, buôn bán rồi chuyển hẳn sang viết báo, viết văn, cộng tác với nhiều tờ báo ở cả Hà Nội lẫn Nam Kì. Ông để lại không nhiều tác phẩm (vài truyện ngắn như Bực mình, Sống chết mặc bay, Con người Sở Khanh, Nước đời lắm nỗi và tập truyện cười Tiếu lâm An Nam) nhưng được xem là người khai mở truyện ngắn hiện đại ở nước ta, với cái nhìn hiện thực, phê phán xã hội đương thời.
Xuất xứ, thể loại
- Xuất xứ: truyện in trên tạp chí Nam Phong số 18, tháng 12 năm 1918; được xem là tác phẩm mở đầu cho truyện ngắn hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ ở nước ta.
- Thể loại: truyện ngắn hiện đại, kể ở ngôi thứ ba; người kể nhiều lần chen lời bình luận trực tiếp.
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
Tóm tắt ngắn
Gần một giờ đêm, mưa to, nước sông Nhị Hà dâng cao, khúc đê ở một làng thuộc phủ nọ sắp vỡ. Hàng trăm người dân dầm mưa, lội bùn chống giữ trong tuyệt vọng. Trong khi đó, viên quan phụ mẫu có trách nhiệm hộ đê lại ngồi trong ngôi đình cao ráo, có người hầu hạ, say sưa đánh tổ tôm với nha lại. Có người báo đê sắp vỡ, quan gạt đi; người nhà quê chạy vào báo đê vỡ thật, quan quát mắng, đòi bỏ tù, rồi lại giục bốc bài. Đúng lúc quan ù ván bài to thì ngoài kia nước tràn khắp vùng, dân chúng lâm vào cảnh nhà trôi, người chết thảm khốc.
Hướng dẫn soạn bài Sống chết mặc bay (SGK Ngữ văn 7 cũ)
Phần Đọc – hiểu văn bản có 4 câu, phần Luyện tập có 2 câu. Mỗi câu dưới đây chép lại đề, sau đó là gợi ý trả lời có dẫn chứng.
Câu 1: Bố cục của truyện (trang 81)
Sống chết mặc bay có thể chia làm mấy đoạn? Mỗi đoạn nói gì?
Trả lời: Truyện chia làm 3 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến “Khúc đê này hỏng mất”): đê sắp vỡ, người dân gồng mình chống đỡ trong mưa gió.
- Đoạn 2 (tiếp theo đến “Điếu, mày!”): quan phụ mẫu cùng nha lại ngồi trong đình đánh tổ tôm, mặc kệ tin đê vỡ.
- Đoạn 3 (đoạn cuối): đê vỡ, dân chúng chìm trong cảnh lụt lội thảm thương.
Câu 2: Phép tương phản trong truyện (trang 81)
Phép tương phản (cũng gọi là đối lập) trong nghệ thuật là việc tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật một ý tưởng bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác phẩm. Dựa vào định nghĩa trên, em hãy:
a) Chỉ ra hai mặt tương phản cơ bản trong truyện Sống chết mặc bay.
b) Phân tích làm rõ từng mặt trong sự tương phản đó.
c) Chỉ qua hai mặt tương phản, hình ảnh tên quan phủ đi “hộ đê” được tác giả khắc họa như thế nào.
d) Nêu lên dụng ý của tác giả trong việc dựng cảnh tương phản này.
Trả lời:
a) Hai cảnh đối lập chính: một bên là cảnh người dân ngoài đê vất vả, khốn khổ, chống chọi với mưa lũ; một bên là cảnh quan phụ mẫu trong đình nhàn nhã, sung sướng, mải mê đánh bài.
b) Phân tích từng mặt:
- Cảnh ngoài đê: thời gian là gần một giờ đêm; mưa tầm tã không ngớt, nước sông cuồn cuộn dâng lên, đê đã thẩm lậu mấy chỗ. Hàng trăm nghìn dân phu, người cầm cuốc, người cầm thuổng, người gánh đất, người khuân tre, lội trong bùn sâu, ai cũng ướt sũng và kiệt sức. Trống, ốc, tiếng gọi nhau vang lên hỗn loạn. Người kể thốt lên: “Tình cảnh trông thật là thảm.”
- Cảnh trong đình: ngôi đình cũng nằm trên đê nhưng ở chỗ cao, chắc chắn, nước lớn mấy cũng chẳng hề gì. Đèn đuốc sáng rực, người hầu kẻ hạ qua lại tấp nập. Bên trong im ắng, nghiêm trang, chỉ nghe tiếng gọi quân bài, tiếng dạ, tiếng truyền. Quan cùng thầy đề, thầy đội, thầy thông, chánh tổng ngồi hầu bài như không hề có cơn lũ ngoài kia.
c) Chân dung viên quan phủ:
- Chỗ ở và sinh hoạt: ngồi trên sập giữa đình, có người gãi chân, người quạt, người hầu điếu đóm; bên cạnh bày đủ thứ quý giá: yến hấp đường phèn, tráp khảm đồi mồi, đồng hồ vàng, ống thuốc bằng bạc… toàn đồ xa xỉ, mang cả ra nơi hộ đê.
- Tư thế, giọng điệu: chễm chệ, tay dựa gối, chân duỗi cho người gãi; nói năng cộc lốc kiểu ra lệnh, trừ quan ra không ai dám to tiếng.
- Thái độ khi có tin đê vỡ: lần đầu nghe báo, quan cau mặt gắt “Mặc kệ!”; khi người nhà quê chạy vào báo đê vỡ thật, quan đỏ mặt tía tai, dọa “cách cổ”, “bỏ tù”, sai đuổi người ra, rồi quay vào giục bốc bài. Khi ù, quan sung sướng reo lên trong lúc nước đã tràn khắp vùng.
Qua đó, viên quan hiện lên là kẻ hưởng lạc, hách dịch và vô trách nhiệm đến mức tàn nhẫn, coi ván bài trọng hơn tính mạng của dân.
d) Dụng ý của tác giả: đặt hai cảnh sát cạnh nhau, tác giả làm nổi bật nỗi khổ của người dân và tội ác của kẻ cầm quyền. Sự đối lập càng gay gắt thì bản chất “lòng lang dạ thú” của quan càng lộ rõ; đồng thời bộc lộ thái độ phê phán của nhà văn với quan lại phong kiến và niềm thương cảm với người lao động.
Câu 3: Phép tăng cấp kết hợp với tương phản (trang 82)
Trong nghệ thuật văn chương còn có phép tăng cấp (lần lượt đưa thêm chi tiết và chi tiết sau phải cao hơn chi tiết trước), qua đó làm rõ thêm bản chất một sự việc, một hiện tượng muốn nói. Em hãy phân tích, chứng minh bằng cách trả lời:
a) Sự tăng cấp trong việc miêu tả mức độ trời mưa, nước sông dâng cao, nguy cơ vỡ đê, cảnh vất vả, căng thẳng của người dân là thế nào?
b) Sự tăng cấp trong việc miêu tả mức độ đam mê bài bạc của tên quan như thế nào?
c*) Nhận xét về tác dụng của sự kết hợp hai nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong việc vạch trần bản chất “lòng lang dạ thú” của tên quan phủ.
Trả lời:
a) Tăng cấp ở cảnh ngoài đê:
- Mưa: từ mưa tầm tã đến mưa vẫn trút xuống không ngừng, rồi mưa gió ầm ầm.
- Nước sông: từ lên to quá đến cuồn cuộn bốc lên, cuối cùng tràn lênh láng.
- Đê: từ chỗ yếu dần, rỉ nước ở hai ba đoạn, đến nguy cơ “hỏng mất”, rồi vỡ thật.
- Người dân: từ hết sức giữ gìn đến ai cũng mệt lử; âm thanh “trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi”, tiếng gọi nhau mỗi lúc một gấp. Cuối cùng là tiếng kêu dậy trời ngoài xa, tiếng nước ào ào như thác.
b) Tăng cấp ở cảnh trong đình:
- Lúc đầu quan say bài đến mức dầu đê vỡ, dân trôi cũng không màng.
- Có tiếng kêu vang ngoài xa, mọi người giật mình, quan vẫn điềm nhiên chờ ù.
- Có người khẽ báo đê e đã vỡ, quan gắt “Mặc kệ!” rồi giục bốc bài.
- Người nhà quê vào báo đê đã vỡ, quan nổi giận, đòi bỏ tù, sai đuổi ra, lại giục bốc tiếp.
- Cao điểm là lúc quan ù to, vỗ tay xuống sập, mặt mày hớn hở, đúng lúc dân ngoài kia ngập lụt.
c*) Hiệu quả khi kết hợp hai phép: tương phản cho thấy hai thế giới trái ngược; tăng cấp đẩy cả hai thế giới đi đến tột cùng: nỗi khổ của dân càng lúc càng thảm, sự say mê và vô trách nhiệm của quan càng lúc càng quá quắt. Đến cuối truyện, hai đường ấy gặp nhau ở cùng một khoảnh khắc: quan reo vui vì ù ván bài to, còn dân thì “nghìn sầu muôn thảm”. Nhờ thế, bản chất vô lương tâm của tên quan phủ bị lột trần một cách tự nhiên, không cần lời buộc tội dài dòng, và tiếng nói phê phán của truyện trở nên đanh thép.
Câu 4: Giá trị hiện thực, nhân đạo và nghệ thuật (trang 82)
Hãy phát biểu chung về giá trị hiện thực, nhân đạo và nghệ thuật (ngôn ngữ và hình tượng nhân vật…) của truyện Sống chết mặc bay.
Trả lời:
- Giá trị hiện thực: cho thấy sự đối lập gay gắt: quan lại sống xa hoa, thờ ơ với trách nhiệm, còn dân lành điêu đứng khi thiên tai ập đến trong xã hội thực dân phong kiến đầu thế kỉ XX; phê phán thói “lòng lang dạ thú” của kẻ tự xưng là quan cha mẹ của dân.
- Giá trị nhân đạo: bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với người dân lao động phải chịu cảnh đê vỡ, nhà trôi; lên án kẻ bỏ mặc sinh mạng của dân.
- Giá trị nghệ thuật: kết hợp khéo léo tương phản và tăng cấp; lời kể sinh động, có những đoạn bình luận trực tiếp đầy cảm xúc; ngôn ngữ nhân vật ngắn, sắc, khắc họa đúng tính cách; tình huống truyện kịch tính. Nhân vật quan phụ mẫu là một hình tượng điển hình, sống động, cho thấy truyện đã mang dáng dấp truyện ngắn hiện đại.
Câu 1 (Luyện tập, trang 83): Các hình thức ngôn ngữ trong truyện
Những hình thức ngôn ngữ đã được vận dụng trong truyện Sống chết mặc bay là gì? Hãy trả lời bằng cách đánh dấu vào bảng thống kê.
Trả lời:
| Hình thức ngôn ngữ | Có | Không |
|---|---|---|
| Ngôn ngữ tự sự | x | |
| Ngôn ngữ miêu tả | x | |
| Ngôn ngữ biểu cảm | x | |
| Ngôn ngữ người kể chuyện | x | |
| Ngôn ngữ nhân vật | x | |
| Ngôn ngữ độc thoại nội tâm | x | |
| Ngôn ngữ đối thoại | x |
Ví dụ: lời kể diễn biến cơn lũ là tự sự; đoạn tả cách bày biện trong đình là miêu tả; những câu cảm thán chen vào mạch kể là biểu cảm; lời qua lại giữa quan với thầy đề, với người báo tin là đối thoại. Truyện không có đoạn nào nhân vật tự nói với chính mình nên không có độc thoại nội tâm.
Câu 2 (Luyện tập, trang 83): Ngôn ngữ đối thoại và tính cách quan phủ
Qua ngôn ngữ đối thoại của quan phủ, em thấy tính cách nhân vật đó như thế nào? Hãy nêu nhận xét về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tính cách nhân vật.
Trả lời:
- Lời của quan phủ toàn là câu ngắn, ra lệnh, quát tháo: gọi điếu, giục bốc bài, gắt “Mặc kệ!”, dọa cách cổ, bỏ tù, sai đuổi người báo tin. Khi ù thì reo lên khoái trá. Qua đó thấy y là kẻ hách dịch, chuyên quyền, vô trách nhiệm, chỉ biết thú vui riêng và hoàn toàn dửng dưng với sinh mạng của dân.
- Mối quan hệ: ngôn ngữ nhân vật là phương tiện quan trọng để bộc lộ tính cách. Mỗi câu nói của quan đều phù hợp với địa vị và bản chất của y, nên chỉ cần nghe y nói, người đọc đã hiểu y là người thế nào. Ngôn ngữ càng đúng với tính cách thì nhân vật càng sống động.
Kết luận
Soạn bài Sống chết mặc bay, em cần nắm chắc hai thủ pháp tương phản và tăng cấp, thấy được cách chúng cùng đẩy câu chuyện tới kết cục: quan ù ván bài đúng lúc đê vỡ. Khi trả lời, nên dẫn chi tiết cụ thể của truyện và diễn đạt bằng lời văn của mình.
Xem thêm: