Lạnh lùng là không để lộ chút tình cảm nào khi tiếp xúc với người khác: mặt không cười, giọng không ấm, đáp lời cho có rồi thôi. Hỏi “lạnh lùng nghĩa là gì” thì cần nhớ thêm một nét cũ hơn ít ai để ý: lạnh lùng còn tả cái lạnh thấm vào lòng người, như trong câu thơ Hồ Xuân Hương. Còn “người lạnh lùng” theo cách nói bây giờ thường là người ít nói, khó đoán, khó gần.
| Nghĩa thường dùng | Tỏ ra không có tình cảm, hờ hững, xa cách trong cách đối xử |
| Nghĩa cũ (ít dùng) | Lạnh, cái lạnh tác động mạnh vào tâm hồn: đêm tối lạnh lùng |
| Loại từ | Tính từ; từ láy gốc từ chữ lạnh |
| Gần nghĩa | Lạnh nhạt, lãnh đạm, hờ hững, dửng dưng |

Lạnh lùng: từ cái rét đến cái mặt
Lạnh lùng là từ láy, gốc là chữ lạnh. Ban đầu nó chỉ cái lạnh của trời đất, cái lạnh làm người ta thấy rợn, thấy buồn; từ điển ghi nét này là ít dùng, với ví dụ “đêm tối lạnh lùng”. Dần dần, từ ấy chuyển sang tả con người, và giờ hầu như chỉ còn nghĩa ấy: không hề biểu hiện một chút tình cảm trong quan hệ với người, với việc.
Cách chuyển nghĩa này rất tự nhiên với người Việt. Ta vẫn nói “mặt lạnh như tiền”, “ánh mắt lạnh băng”, “tiếp đón lạnh nhạt”. Hơi ấm là tình người, nên thiếu hơi ấm là thiếu tình. Vài cụm hay đi kèm:
- vẻ mặt lạnh lùng, giọng nói lạnh lùng, đáp lạnh lùng;
- lạnh lùng quay đi, lạnh lùng từ chối;
- tính cách lạnh lùng, con trai lạnh lùng (cách nói của tuổi teen).
Cần để ý: lạnh lùng tả cái người ta thấy được, tức thái độ bề ngoài. Một người lạnh lùng chưa chắc đã không có cảm xúc; có thể họ chỉ giữ kín.
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Nét nghĩa cũ còn sống rất rõ trong câu mở đầu bài thơ Nôm quen thuộc của Hồ Xuân Hương, thường được gọi là Làm lẽ hay Lấy chồng chung:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Có bản chép đảo thứ tự hai câu này, đặt câu “chém cha” lên trước. “Kẻ đắp chăn bông” là người vợ cả, ấm áp bên chồng; “kẻ lạnh lùng” là người vợ lẽ nằm một mình. Chữ lạnh lùng ở đây vừa là cái rét vì không có chăn, vừa là nỗi cô quạnh thấm vào lòng. Một từ mà gói được cả hai lớp, nên câu thơ mới cay đến thế. Toàn văn tám câu có ở trang bài thơ than phận làm lẽ của Hồ Xuân Hương.
Đọc câu ấy rồi quay lại cách nói hôm nay, “cậu ấy lạnh lùng lắm”, sẽ thấy từ này đã đi một quãng khá xa: từ người chịu rét chuyển thành người làm cho kẻ khác thấy rét.
Lạnh lùng, lạnh nhạt, lãnh đạm hay vô cảm?
| Từ | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lạnh lùng | Thái độ bề ngoài không biểu lộ tình cảm, tạo cảm giác xa cách | Cô thủ thư lạnh lùng chỉ tay về phía bảng nội quy |
| Lạnh nhạt | Bớt mặn mà so với trước, thường nói về một mối quan hệ | Dạo này anh ấy lạnh nhạt với bạn bè cũ |
| Lãnh đạm | Hán Việt 冷淡, hờ hững, không quan tâm; sắc thái sách vở | Thái độ lãnh đạm trước lời đề nghị |
| Vô cảm | Không còn động lòng trước nỗi đau, niềm vui của người khác; nặng nhất | Vô cảm đứng quay clip cảnh tai nạn |
| Ấm áp, niềm nở (trái nghĩa) | Biểu lộ tình cảm, dễ gần | Bà chủ quán niềm nở chào khách quen |
Chỗ dễ sai nhất là đánh đồng lạnh lùng với vô cảm. Người lạnh lùng có thể vẫn lặng lẽ giúp bạn mà không nói một câu ngọt nào; người vô cảm thì chẳng buồn giúp. Điều đó được bàn kỹ hơn ở bài về người thờ ơ, không còn biết xúc động.
Lạnh lùng còn đứng ở phía đối diện của thân thiện, cạnh xa cách và khó gần, như được xếp lại trong những từ trái nghĩa với thân thiện.
Cần một từ thay cho lạnh lùng trong bài văn, hay một chữ đối lại nó, có thể tra nhanh đồng nghĩa, trái nghĩa với lạnh lùng kèm câu mẫu.
Vì sao “lạnh lùng” thành lời khen trên mạng?
Trong truyện ngôn tình và phim thần tượng, nhân vật nam chính lạnh lùng, ít cười mà tốt bụng ngầm gần như đã thành một kiểu nhân vật. Giới trẻ mượn luôn hình ảnh ấy: “con trai lạnh lùng” thành một kiểu ngầu, gần với hình mẫu chàng trai đẹp và lạnh trong truyện ngôn tình.
Nhưng ngoài trang truyện, thái độ lạnh lùng có cái giá của nó. Bạn mới vào lớp không dám bắt chuyện, đồng đội ngại hỏi, người thân tưởng mình bị ghét. Viết bài nghị luận về chủ đề này, có thể đi theo hướng: giữ kín cảm xúc là quyền của mỗi người, nhưng biến sự lạnh lùng thành cái “chất” để khoe thì dễ làm tổn thương người bên cạnh. Một câu chào kèm nụ cười chẳng làm ai bớt ngầu.
Lạnh lùng trong tình yêu, trong lời khen và tiếng Anh
Người lạnh lùng là người như thế nào?
Là người ít bộc lộ cảm xúc ra mặt, trả lời cụt, ít cười, giữ khoảng cách với người lạ. Lý do có thể rất khác nhau: tính hướng nội, từng bị tổn thương, hay chỉ là thói quen; không nên vội kết luận họ xấu tính.
Lạnh lùng trong tình yêu nghĩa là sao?
Thường là khi một người không nhắn tin, không quan tâm, đáp lời hờ hững với người yêu. Nếu trước đó họ vốn ấm áp mà bỗng đổi khác, tiếng Việt hay gọi đúng hơn là “lạnh nhạt”.
Lạnh lùng tiếng Anh là gì?
Hay dùng cold (“a cold look”), aloof (xa cách, khó gần) hoặc indifferent (hờ hững). Riêng kiểu người “mặt lạnh mà ngầu” ở trên mạng thường được gọi là cool.
Lạnh lùng có phải từ láy không?
Có. Đây là từ láy bộ phận, láy âm đầu “l”, tạo từ tiếng gốc lạnh; nghĩa của từ láy nhẹ hơn về nhiệt độ nhưng mạnh hơn về thái độ.