Lâng lâng là trạng thái nhẹ nhõm, khoan khoái, thấy trong lòng dễ chịu đến mức như được nhấc bổng lên một chút. Người ta thấy lâng lâng khi vừa nghe tin vui, khi trút xong một việc nặng, hay khi ngồi giữa một buổi chiều đẹp. Cụm “cảm giác lâng lâng” vì thế thường gắn với niềm vui nhẹ, không ồn ào.
| Nghĩa ngắn | Nhẹ nhõm, khoan khoái, dễ chịu trong lòng |
| Loại từ | Tính từ, từ láy toàn bộ |
| Sắc thái | Vui nhẹ, bay bổng; hay dùng trong văn biểu cảm |
| Trái nghĩa | Nặng trĩu, nặng nề, bức bối |

Lâng lâng là cảm giác gì?
Hãy nhớ lại lúc bước ra khỏi phòng thi môn cuối cùng. Vai như vừa được tháo một cái ba lô nặng, chân bước mà không thấy mỏi, đầu chưa nghĩ được gì cụ thể, chỉ thấy nhẹ. Đó là lâng lâng. Mục từ này trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi nghĩa là ở trạng thái nhẹ nhõm, khoan khoái, rất dễ chịu, với hai ví dụ ngắn: tâm hồn lâng lâng, lòng lâng lâng vui sướng.
Điểm đáng chú ý là lâng lâng hầu như luôn nói về cảm giác bên trong, ít khi tả vật. Ta nói lòng lâng lâng, người lâng lâng, đầu óc lâng lâng; không ai nói “chiếc lá lâng lâng”. Nó cũng là niềm vui ở cường độ vừa phải: vui đến mức reo hò thì đã thành sướng rơn, hớn hở.
- Được cô gọi tên lên nhận giấy khen, em thấy người cứ lâng lâng.
- Trả xong khoản nợ cuối cùng, anh đi về mà lòng lâng lâng như trẻ ra mấy tuổi.
- Gió sông thổi mát, tiếng ai hát vọng sang bờ bên kia, tâm hồn tôi lâng lâng lạ.
- Ngủ dậy sau một đêm thức trắng, đầu còn lâng lâng, chưa tỉnh hẳn.
Câu cuối cho thấy một nét phụ: lâng lâng còn tả cái đầu nhẹ bẫng, hơi lơ mơ khi thiếu ngủ hoặc vừa tỉnh dậy. Nét này không mang ý vui mà chỉ là cảm giác cơ thể.
Ở nhiều vùng lẫn âm l với n nên không ít người viết thành “nâng nâng”; chuyện viết đúng được bàn riêng ở bài phân biệt nâng nâng với lâng lâng.
Một chữ láy lặp lại trọn vẹn
Lâng lâng thuộc kiểu láy toàn bộ: tiếng sau lặp nguyên tiếng trước, cả âm đầu, vần lẫn thanh. Cùng kiểu có nao nao, ầm ầm, xanh xanh. Điều thú vị là “lâng” đứng riêng không có nghĩa trong tiếng Việt thông dụng; nghĩa chỉ hiện ra khi hai tiếng đi cùng nhau. Đây là nét chung của khá nhiều từ láy tả cảm giác, như bâng khuâng, nao nao.
Âm “âng” kéo dài, không có phụ âm tắc ở cuối, đọc lên nghe mở và bay. Có lẽ vì thế mà từ này hợp với cảm giác bay bổng hơn là với nỗi buồn. Bạn nào muốn ôn lại cách nhận diện các kiểu láy có thể xem bài từ láy và các kiểu láy trong tiếng Việt.
Lâng lâng, bâng khuâng hay phơi phới?
Trong văn biểu cảm, mấy từ tả cảm xúc “nhẹ” thường bị dùng thay nhau. Thật ra mỗi từ có màu riêng:
| Từ | Màu cảm xúc | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lâng lâng | Nhẹ nhõm, dễ chịu, hơi bay bổng | Lòng lâng lâng sau buổi lễ tốt nghiệp |
| Phơi phới | Vui tươi, tràn sức sống, hướng về phía trước | Tuổi trẻ phơi phới niềm tin |
| Bâng khuâng | Vương vấn, buồn nhẹ, khó gọi tên | Bâng khuâng nhìn lại sân trường cũ |
| Xao xuyến | Rung động, nao nao trong lòng | Xao xuyến khi nghe lại bài hát cũ |
| Chếnh choáng | Hơi choáng váng, mất thăng bằng nhẹ | Chếnh choáng vì say sóng |
Lâng lâng và bâng khuâng hay bị đánh đồng nhất, vì cả hai đều nhẹ và khó tả. Khác nhau ở chỗ lâng lâng nghiêng về vui, còn bâng khuâng có chút buồn vương vấn; xem thêm bài nỗi niềm khó gọi tên của chữ bâng khuâng. Từ trái nghĩa với lâng lâng là những từ tả lòng nặng nề: nặng trĩu, trĩu nặng, nặng nề, bức bối.
Viết bài văn tả cảm xúc ngày khai giảng, đừng dồn cả ba từ “lâng lâng, bâng khuâng, xao xuyến” vào một câu. Chọn một từ đúng nhất rồi tả cho ra cái cảm giác ấy, câu văn sẽ thật hơn nhiều.
Lâng lâng trong lời kể chuyện vui
Cảm giác lâng lâng là như thế nào?
Là thấy trong người nhẹ hẳn đi, đầu óc thư thái, có chút vui mà không rõ vì sao phải nói ra. Cảm giác này thường đến sau một tin vui, một việc lớn vừa xong, hoặc một khoảnh khắc đẹp.
Lâng lâng có phải từ láy không?
Có, đây là từ láy toàn bộ: hai tiếng giống hệt nhau cả âm, vần và thanh. Tiếng “lâng” đứng riêng không mang nghĩa trong cách nói thông dụng.
Lâng lâng tiếng Anh là gì?
Tùy câu có thể dịch là light-hearted, elated hoặc on cloud nine khi nói về niềm vui. Với nghĩa đầu óc nhẹ bẫng, hơi lơ mơ thì light-headed sát hơn.