Bâng khuâng là trạng thái lòng người lâng lâng, hơi ngẩn ngơ, vừa nhớ vừa tiếc mà không nói rõ được vì sao. Hỏi bâng khuâng nghĩa là gì, có thể trả lời gọn: một nỗi buồn nhẹ, không đau, không gắt, thường đến lúc chia tay, lúc đứng trước một khoảng trời rộng hay khi một kỉ niệm cũ bất chợt quay về.
| Nghĩa ngắn | Buồn nhẹ, nhớ tiếc mơ hồ, lòng như ngẩn ra |
| Loại từ | Tính từ; từ láy thuần Việt (hai tiếng giống phần vần) |
| Sắc thái | Êm, man mác, thiên về văn chương và lời tâm sự |
| Hay đi với | lòng, dạ, cảm giác, nỗi; bâng khuâng nhớ…, bâng khuâng nhìn… |

Bâng khuâng: nỗi niềm không gọi được tên
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê xếp bâng khuâng vào loại tính từ và giải thích bằng ba ý đan vào nhau: luyến tiếc, nhớ thương, và cái vẻ ngẩn ngơ mà hai cảm xúc ấy để lại. Wiktionary tiếng Việt nói thêm về sự mơ hồ: người bâng khuâng thấy lòng chùng xuống nhưng khó chỉ ra mình đang buồn chuyện gì.
Chính chỗ “không gọi được tên” làm nên chữ này. Giận thì biết giận ai, lo thì biết lo việc gì. Còn bâng khuâng thường không có đối tượng rõ ràng. Một buổi chiều cuối hè, một con đường cũ, tiếng trống trường vọng sang từ xa, thế là đủ.
Vài câu dùng đúng nghĩa:
- Buổi học cuối của năm lớp 12, nhìn dãy bàn đã kê gọn, cả lớp bỗng thấy bâng khuâng.
- Mùi hoa sữa đầu ngõ làm chị bâng khuâng nhớ những tối đạp xe đi học thêm.
- Tiễn bạn lên xe về quê, tôi đứng bâng khuâng một lúc lâu mới quay vào.
- Lật lại cuốn lưu bút cũ, cảm giác bâng khuâng kéo dài suốt buổi tối.
Về cấu tạo, đây là từ láy: hai tiếng bâng và khuâng cùng mang âm “âng”, và không tiếng nào đứng riêng mà có nghĩa. Muốn xem chữ này nằm ở nhóm nào, có thể đọc thêm các kiểu từ láy kèm ví dụ trong sách.
Đặt bâng khuâng cạnh xao xuyến, bồi hồi, man mác
Tiếng Việt có cả một chùm từ chỉ cảm xúc nhẹ, nghĩa gần nhau nhưng không thay được cho nhau trong mọi câu.
| Từ | Nét chính | Khác bâng khuâng ở đâu |
|---|---|---|
| xao xuyến | Lòng rung động, xúc động lan ra | Thường có đối tượng cụ thể (một ánh mắt, một lời hứa) và mạnh hơn |
| bồi hồi | Xúc động dâng lên, tim như đập nhanh | Hay gắn với lúc nhớ lại hoặc chờ đợi, có phần nôn nao |
| man mác | Buồn lan rộng, nhẹ và kéo dài | Hay dùng cho cảnh vật và không khí; bâng khuâng nghiêng về lòng người |
| ngẩn ngơ | Thẫn thờ, như mất hồn | Tả biểu hiện bên ngoài nhiều hơn cảm xúc bên trong |
| vấn vương | Còn nhớ, còn lưu luyến | Bám vào một người, một chuyện cụ thể |
Không có từ trái nghĩa trực tiếp. Gần với phía đối lập là thanh thản, nhẹ nhõm hay dửng dưng, những trạng thái không còn gì vướng lại trong lòng.
Vì âm đọc na ná, không ít người nói lẫn bâng khuâng với băn khoăn, vốn chỉ sự đắn đo chưa quyết. Cách tách hai chữ có trong bài băn khoăn hay bâng khuâng.
Một chữ nghe na ná nhưng nghĩa xa hơn nhiều là bâng quơ, chỉ lời nói, việc làm vu vơ không nhằm vào đâu; chỗ khác nhau ấy được tách ra trong bài bâng quơ nghĩa là gì.
Bâng khuâng trong Truyện Kiều và Tràng giang
Trong bản Truyện Kiều trên Wikisource, chữ bâng khuâng xuất hiện năm lần, phần nhiều gắn với nỗi nhớ sau một cuộc gặp. Lần đầu là lúc Kim Trọng về lại thư phòng, không quên được buổi gặp Thúy Kiều trong tiết Thanh minh:
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Nỗi nhớ ở đây chưa thành tên gọi. Chàng nhớ cả cảnh lẫn người, nhớ đến mức phải quay lại chốn cũ. Vài trăm câu sau, khi Kiều sang tìm lúc đêm khuya, chàng lại “bâng khuâng” như còn ngờ mình đang mơ. Cùng một chữ, một lần nghiêng về nhớ, một lần nghiêng về mơ màng.
Hơn một thế kỉ sau, Huy Cận đặt chữ này lên đầu bài Tràng giang, ngay ở lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Cái buồn của người đứng trước sông nước mênh mông được gói trong một chữ, rồi cả bài thơ trải nó ra thành sóng, thành bèo, thành cánh chim. Phần soạn bài Tràng giang của Huy Cận có nói kĩ hơn về lời đề từ này.
Mấy câu hỏi quanh chữ bâng khuâng
Bâng khuâng nghĩa là gì khi nói “lòng bâng khuâng”?
“Lòng bâng khuâng” là trong lòng có một nỗi nhớ, nỗi tiếc nhẹ, chưa rõ hình thù. Người nói không hẳn buồn, càng không đau khổ, chỉ thấy tâm trí chùng xuống và lơ đãng hơn thường ngày.
Bâng khuâng là buồn hay vui?
Nghiêng về buồn, nhưng là thứ buồn dịu, thường có chút ngọt. Người ta có thể bâng khuâng trong một dịp vui, chẳng hạn hôm tốt nghiệp, vì niềm vui ấy cũng đánh dấu một điều sắp khép lại.
Bâng khuâng là từ láy hay từ ghép?
Là từ láy. Hai tiếng gắn với nhau nhờ phần vần giống nhau, và tách riêng thì không tiếng nào mang nghĩa, nên không thể là từ ghép.
Tiếng Anh có từ nào tương đương bâng khuâng?
Không có từ khớp hoàn toàn. Người dịch thường chọn wistful hoặc pensive, có khi thêm cụm “a vague longing”. Mỗi cách chỉ bắt được một phần: wistful có nỗi tiếc, pensive có sự trầm ngâm, còn chất ngẩn ngơ thì gần như mất đi.