Kính ngữ là những từ ngữ, cách xưng hô và cách nói mà người nói chọn để bày tỏ sự kính trọng với người nghe hoặc với người được nhắc tới trong câu. Trong tiếng Việt, đó là dạ, thưa, ạ, là cách gọi ông, bà, quý khách; trong tiếng Hàn và tiếng Nhật, kính ngữ còn làm đổi cả đuôi câu lẫn hình thức động từ.
| Khái niệm | Lớp từ ngữ, cách xưng hô, cách nói dùng để tỏ lòng kính trọng trong giao tiếp |
| Gốc từ | Hán Việt 敬語: kính (kính trọng) + ngữ (lời nói) |
| Thuộc | Phép lịch sự trong giao tiếp; gắn với từ xưng hô và tình thái từ |
| Dấu hiệu nhận biết | Gọi người nghe ở vai cao, tự xưng ở vai thấp; có dạ, thưa, ạ; dùng từ trang trọng thay từ thường |
| Tiếng Anh | honorific, honorifics |

Kính ngữ là gì?
Hai chữ Hán của từ này đã nói gần đủ nghĩa: kính là tôn trọng, giữ lễ; ngữ là lời. Kính ngữ, vì thế, là lời nói có “cúi đầu”. Wiktionary và Wikipedia tiếng Việt đều coi kính ngữ là cách người nói bày tỏ lòng quý trọng với chức vị, vai vế của người mình nhắc tới; Wikipedia còn nêu những biểu hiện quen thuộc trong tiếng Việt như gọi cô, chú, bác, mở câu bằng thưa, dạ và kết câu bằng ạ.
Điều làm tiếng Việt khác tiếng Hàn hay tiếng Nhật là cách “đóng gói” sự kính trọng. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, từ không biến hình, nên kính ngữ không nằm ở đuôi động từ mà nằm ở việc chọn từ: chọn đại từ xưng hô, thêm từ tình thái, thay một từ thường bằng một từ trang trọng hơn. Các nghiên cứu so sánh tiếng Việt với tiếng Hàn đăng trên tạp chí ngôn ngữ học trong nước cũng chỉ ra điều này.
Ở nhà trường, học sinh gặp kính ngữ không dưới cái tên ấy mà qua các bài về từ xưng hô, về tình thái từ như à, ư, nhỉ, ạ và về phép lịch sự trong hội thoại.
Bốn lớp kính ngữ trong câu nói của người Việt
| Lớp | Cách làm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Xưng hô nâng người nghe | Gọi người nghe bằng từ chỉ vai cao, tuổi cao hoặc sự tôn quý | ông, bà, bác, thầy, ngài, quý vị, quý khách |
| Tự xưng hạ mình (khiêm xưng) | Người nói tự đặt mình ở vai thấp hơn | con, cháu, em; xưa có thiếp, tại hạ, kẻ hèn này |
| Từ thưa gửi, tình thái | Thêm từ mở đầu, đáp lời, kết câu tỏ lễ độ | dạ, vâng, thưa, kính thưa, kính gửi, ạ |
| Từ thay thế trang trọng | Dùng từ (thường là Hán Việt) sang hơn cho người được kính | dùng bữa (ăn), từ trần (chết), phu nhân (vợ), thân phụ (bố), quý danh (tên) |
Một câu lễ phép thường dùng cùng lúc nhiều lớp. Trong “Dạ, thưa bác, cháu xin phép về trước ạ” có đủ từ thưa gửi (dạ, thưa, ạ), xưng hô nâng người nghe (bác) và tự xưng hạ mình (cháu). Bớt hết đi, câu còn lại là “Tôi về trước”, vẫn đúng ngữ pháp nhưng với người lớn tuổi thì cộc.
Ba phép thử để nhận ra một kính ngữ
- Thử bỏ đi. Bỏ từ ấy mà câu vẫn đủ nghĩa thông tin nhưng mất vẻ lễ độ, thì đó gần như chắc chắn là kính ngữ. “Mời bác dùng cơm” và “Mời bác ăn cơm” báo cùng một việc; chữ “dùng” chỉ thêm sự trân trọng.
- Thử đổi người nghe. Nói với bạn cùng lớp mà vẫn dùng “dạ, thưa” thì nghe lạ, nói với thầy hiệu trưởng thì lại tự nhiên. Từ nào đổi theo vai người nghe là từ mang chức năng kính ngữ.
- Xét giọng điệu. Cùng một chữ “ngài”, nói với vị khách quý là kính ngữ, nói với đứa bạn đến muộn (“ngài định mấy giờ mới tới?”) lại là giễu. Kính ngữ phải đi cùng thái độ thật sự tôn trọng.
Phép thử thứ ba quan trọng khi làm bài đọc hiểu: gặp từ tôn xưng trong lời một nhân vật, cần đọc cả ngữ cảnh để biết nhân vật đang kính trọng thật, đang khách sáo hay đang mỉa mai.
Chữ ngài trong ngục tối và chữ thiếp bên bến Hoàng Giang
Quản ngục và Huấn Cao trong Chữ người tử tù
Truyện của Nguyễn Tuân đảo ngược hẳn trật tự kính ngữ thông thường. Viên quản ngục, người nắm quyền trong nhà lao, lại khép nép gọi người tử tù là “ngài” và tự xưng “tôi”:
Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết.
Còn Huấn Cao, kẻ đang đeo gông, đáp bằng cặp xưng hô bề trên “ta – ngươi”: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.” Chỉ qua hai câu, người đọc thấy ai mới thật sự đứng cao hơn về nhân cách. Bên cạnh đó, thầy thơ lại mở lời với quản ngục toàn bằng “dạ bẩm”, một kiểu thưa gửi của cấp dưới thời ấy. Bài câu hỏi đọc hiểu Chữ người tử tù có phân tích thêm cảnh cho chữ.
Lời Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương
Vũ Nương nói với chồng luôn xưng “thiếp”, gọi chồng là “chàng”: khiêm xưng và tôn xưng đi thành cặp, đúng lễ của người vợ trong xã hội xưa. Khi bị nghi oan, nàng ra bến Hoàng Giang khấn thần sông và gọi thần là “ngài”. Lời nàng càng nhún nhường, nỗi oan càng thấm. Ôn lại văn bản ở bài hướng dẫn đọc hiểu truyện Vũ Nương.
Kính ngữ đứng cạnh khiêm ngữ, nói giảm nói tránh và lối nói khách sáo
| Khái niệm | Mục đích chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Kính ngữ | Nâng người nghe hoặc người được nhắc đến | Mời bác dùng trà ạ |
| Khiêm xưng (khiêm ngữ) | Hạ thấp bản thân để tỏ lễ | Cháu xin phép; tệ xá (nhà tôi, lối nói cũ) |
| Nói giảm nói tránh | Làm nhẹ một sự thật buồn, khó nói | Bà đã đi xa (thay cho “đã chết”) |
| Khách sáo | Giữ lễ quá mức, thành ra xa cách, thiếu thật lòng | Gọi bạn thân là “quý anh” |
Kính ngữ và khiêm xưng thường đi đôi: nâng người kia lên và hạ mình xuống là hai mặt của cùng một phép lịch sự. Nói giảm nói tránh thì khác mục đích: nó làm mềm nội dung chứ không nhằm nâng ai. Có những từ thuộc cả hai, như “từ trần”, vừa trang trọng vừa tránh chữ “chết”; phần này được nói kĩ ở bài biện pháp nói tránh cho nhẹ lời.
Kính ngữ trong tiếng Hàn và tiếng Nhật khác ta ở đâu?
Người Việt học tiếng Hàn, tiếng Nhật thường thấy kính ngữ là phần khó nhất, vì ở hai thứ tiếng này kính ngữ chạy vào tận ngữ pháp.
- Tiếng Hàn chia lời nói thành jondaetmal (존댓말, lời kính) và banmal (반말, lời trống không). Câu kính trọng đổi đuôi (đuôi -요, đuôi -ㅂ니다 trang trọng hơn), có thể chèn yếu tố -시- vào động từ để tôn người làm hành động, có tiểu từ chủ ngữ riêng như 께서.
- Tiếng Nhật gọi chung là keigo (敬語, cùng chữ Hán với kính ngữ), thường chia ba nhóm: tôn kính ngữ sonkeigo nâng hành động của người khác, khiêm nhường ngữ kenjōgo hạ hành động của mình, thể lịch sự teineigo với đuôi です/ます.
Cách gọi người theo vai vế cũng nằm trong hệ thống ấy; người hâm mộ văn hóa Hàn, Nhật quen với nó qua những chữ như tiếng gọi người đi trước trong trường lớp Nhật.
Luyện tập: nhận diện và sửa những câu thiếu kính ngữ
Câu 1: Tìm các yếu tố kính ngữ trong câu: “Thưa cô, em xin phép nộp bài muộn một ngày ạ.”
Đáp án: “Thưa” (từ thưa gửi mở đầu), “cô” (xưng hô nâng người nghe), “em” (tự xưng ở vai thấp), “xin phép” (cách nói nhún nhường) và “ạ” (tình thái từ cuối câu tỏ lễ độ).
Câu 2: Sửa câu sau cho phù hợp khi nói với ông nội: “Ông ăn cơm chưa? Tôi dọn cho.”
Đáp án tham khảo: “Ông ơi, ông đã dùng cơm chưa ạ? Để cháu dọn cơm ông nhé.” Thay “tôi” bằng “cháu”, thêm “ạ”, có thể đổi “ăn” thành “dùng” để trang trọng hơn.
Câu 3: Trong câu “Ngài lại quên mang sách rồi à?” (bạn cùng bàn nói với nhau), chữ “ngài” có phải kính ngữ không?
Đáp án: Không theo nghĩa tỏ lòng kính trọng. “Ngài” ở đây được dùng để trêu, có chút mỉa mai, vì hai người ngang hàng và giọng câu là trách yêu. Hình thức là kính ngữ, nhưng chức năng thì không.
Câu 4: Từ “phu nhân”, “từ trần”, “quý danh” lần lượt thay cho những từ thường nào, và vì sao người ta chọn chúng?
Đáp án: Phu nhân thay “vợ”, từ trần thay “chết”, quý danh thay “tên”. Đây là từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, dùng khi nói về người cần tỏ lòng tôn kính, trong thư mời, cáo phó hoặc khi tiếp khách.
Kính ngữ khi học tiếng Hàn, tiếng Nhật và khi viết thư
Kính ngữ tiếng Hàn là gì?
Là cách nói tôn trọng của tiếng Hàn (존댓말), thể hiện qua đuôi câu, yếu tố -시- trong động từ, tiểu từ và cả một số từ vựng riêng. Nói trống không (반말) với người lớn hơn hoặc người mới quen bị coi là vô lễ.
Kính ngữ tiếng Nhật là gì?
Là keigo (敬語), hệ thống cách nói lịch sự của tiếng Nhật, thường chia thành tôn kính ngữ, khiêm nhường ngữ và thể lịch sự. Người mới học hay bắt đầu từ đuôi です/ます rồi mới tới các động từ kính ngữ riêng.
Kính ngữ tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là honorific (số nhiều honorifics). Tiếng Anh không có hệ thống kính ngữ trong ngữ pháp, nhưng có các danh xưng như Sir, Madam, Your Honour và cách nói lịch sự như Would you mind….
Dùng nhiều kính ngữ có bị coi là khách sáo không?
Có thể. Trong thư gửi thầy cô hay đối tác, “kính gửi”, “trân trọng” là phải phép. Nhưng với bạn bè, người thân, dùng kính ngữ dày đặc dễ khiến người nghe thấy xa cách, thậm chí nghĩ mình đang bị giễu.