Kiệm lời là nói rất ít, chỉ mở miệng khi thật cần và nói vừa đủ ý. Đây là tính từ tả cách nói năng của một người. Người kiệm lời không im lặng vì giận hay vì ngại; họ chỉ không thấy cần nói thêm. Muốn hiểu đúng kiệm lời nghĩa là gì, nên nhớ chữ này thường mang ý khen nhẹ nhiều hơn là chê.
| Nghĩa ngắn | Ít lời, chỉ nói điều cần nói |
| Cấu tạo | kiệm (儉, Hán Việt: dè sẻn, có chừng mực) + lời (thuần Việt) |
| Loại từ | Tính từ |
| Sắc thái | Trung tính, hơi nghiêng về khen; gần với điềm đạm, chín chắn |

Kiệm lời là tiêu chữ như tiêu tiền
Hình dung một người cẩn thận với túi tiền: không mua thứ thừa, nhưng cần thì vẫn chi. Người kiệm lời đối xử với lời nói y như vậy. Trong bữa cơm họ có thể chỉ góp ba câu, nhưng câu nào cũng trúng chuyện đang bàn.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xếp kiệm lời vào loại tính từ, nghĩa là dùng ít lời và chỉ nói những gì thực sự cần. Trong định nghĩa ấy có hai vế, thiếu vế nào cũng hiểu lệch:
- Ít về lượng. Người kiệm lời không kể lể, không rào trước đón sau, ít khi mở đầu câu chuyện.
- Đủ về ý. Cái ít ấy là ít có chọn lọc. Một người im lặng cả buổi vì không biết nói gì thì chưa hẳn là kiệm lời; đó có khi chỉ là ngượng.
Vì có vế thứ hai nên từ này thường dùng để tả người lớn tuổi, người từng trải, người làm nghề cần sự chính xác. Càng về già, ông nội càng kiệm lời, nhưng hễ ông lên tiếng là cả nhà ngồi nghe.
Chữ kiệm 儉 vốn nói về tiền gạo
Kiệm là chữ Hán 儉. Thiều Chửu giảng chữ này là tằn tiện, biết tiết chế, không phung phí. Nghĩa ấy còn nguyên trong những từ quen: cần kiệm, kiệm ước, cần kiệm liêm chính, và gần gũi nhất là chữ kiệm trong tiết kiệm, cần kiệm. Ở các từ đó, thứ được dè sẻn là tiền bạc, của cải, sức lực.
Kiệm lời là một cách ghép khá lạ: nửa Hán Việt, nửa thuần Việt. Người nói đã kéo cái nghĩa “dè sẻn” từ chuyện tiền gạo sang chuyện ăn nói, coi lời nói cũng là thứ có hạn, tiêu hoang thì mất giá. Cách nghĩ ấy hợp với lời ông bà dặn “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Cũng theo lối ghép này, người ta nói một cây bút kiệm chữ: viết ngắn, câu nào cũng có việc của nó.
Kiệm lời, ít nói và lầm lì khác nhau chỗ nào?
Mấy từ dưới đây cùng tả người nói ít, nhưng mỗi từ nhìn từ một phía.
| Từ | Trọng tâm | Sắc thái |
|---|---|---|
| Kiệm lời | Nói ít mà đúng chỗ, có chọn lọc | Thường là khen |
| Ít nói | Chỉ ghi nhận lượng lời nói ít | Trung tính |
| Trầm tính | Tính cách điềm, ít bộc lộ cảm xúc | Trung tính |
| Lầm lì | Ít nói, ít cười, khó gần | Hơi chê |
| Lắm lời, ba hoa | Nói nhiều, nói quá mức cần | Chê |
Ít nói là cách gọi gần nghĩa nhất, có thể thay cho kiệm lời trong hầu hết câu. Khác biệt nằm ở thái độ người nói: bảo ai đó “ít nói” là kể một đặc điểm, còn bảo “kiệm lời” là đã ngầm công nhận lời họ có giá. Trầm tính lại nói về cả con người, không riêng chuyện nói năng; điều này được giải kĩ ở bài người trầm tính sống và nói ra sao. Về phía trái nghĩa, có nói nhiều, lắm lời, ba hoa, bép xép.
Đặt “kiệm lời” vào câu cho khéo
- Lời phê học bạ: Em kiệm lời nhưng phát biểu chính xác, cần mạnh dạn hơn khi làm việc nhóm.
- Tả nhân vật trong bài văn: Người lái đò kiệm lời, chỉ hất hàm về phía bờ bên kia thay câu chào.
- Nơi làm việc: Trưởng phòng vốn kiệm lời, email nào của chị cũng chỉ ba dòng.
- Trong gia đình: Bố kiệm lời chứ không lạnh lùng, cứ nhìn đĩa cá bố gỡ sẵn xương là biết.
Một cách dùng hay bị bỏ qua: kiệm lời có thể đi kèm một loại lời cụ thể. Cô giáo dạy Văn rất kiệm lời khen nghĩa là cô ít khi khen, chứ không phải cô ít nói. Câu ngược lại quen tai hơn: “không tiếc lời khen”. Viết đúng cặp này, đoạn văn nghe tự nhiên hẳn.
Người kiệm lời ở lớp, ở nhà và ở chỗ làm
Kiệm lời là khen hay chê?
Phần nhiều là khen hoặc trung tính. Từ này gợi một người nói ít mà chắc. Nếu muốn chê người ít nói đến mức khó gần, tiếng Việt có những từ khác như lầm lì, cạy răng không nói.
Người kiệm lời có phải người hướng nội không?
Không nhất thiết. Kiệm lời chỉ nói về cách dùng lời, còn hướng nội là chuyện người đó nạp năng lượng từ đâu. Có người hướng ngoại, thích đông vui, mà vẫn kiệm lời khi bàn việc. Muốn rõ hơn về nét tính cách quay vào bên trong thì nên đọc riêng khái niệm đó.
Kiệm lời tiếng Anh là gì?
Cách nói tự nhiên nhất là a man/woman of few words. Văn viết dùng tính từ reticent (dè dặt, ít bộc lộ) hoặc taciturn (ít nói, có phần lạnh).
Trái nghĩa với kiệm lời là gì?
Từ trái nghĩa thường gặp là nói nhiều, lắm lời, ba hoa. Trong văn viết có thể dùng “dông dài” khi muốn nói một người nói dài mà ít ý.