Khu mấn là một cụm từ địa phương của người Nghệ An, Hà Tĩnh, nghĩa đen là phần mông của cái váy. Trong lời nói hằng ngày, nó gần như không còn chỉ cái váy nữa mà thành tiếng chê, tiếng gạt đi: “có cái khu mấn” nghĩa là chẳng có gì, chẳng ra gì. Còn “quả khu mấn” thì không có thật, đó là câu trêu người ngoài vùng.
| Nghĩa đen | Mông váy (khu = mông, đít; mấn = váy, theo phương ngữ) |
| Nghĩa thường dùng | Chẳng có gì, chẳng ra gì; lời chê, lời gạt bỏ |
| Vùng dùng | Nghệ An, Hà Tĩnh (giọng Nghệ) |
| Sắc thái | Suồng sã, hơi thô; chỉ nói với người thân quen |

Khu mấn: hai chữ trong giọng Nghệ
Cả hai chữ đều có trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) với nhãn phương ngữ. Khu là đít, mông; từ điển dẫn ví dụ “chổng khu”. Mấn là cái váy, thứ trang phục quen thuộc của phụ nữ nông thôn miền Bắc và Bắc Trung Bộ thời trước. Ghép lại, khu mấn là chỗ váy che phần mông.
Cái nghĩa đen ấy nghe hơi buồn cười, và chính vì vậy mà nó dễ chuyển sang nghĩa bóng. Một lời giải thích hay được kể là: ngày trước các bà các chị đi làm đồng về, ngồi nghỉ ngay trên bờ ruộng, vệ cỏ, nên chỗ mông váy lúc nào cũng lấm đất, đen bẩn. Thứ vừa thấp, vừa bẩn, vừa chẳng ai muốn khoe, nên đem ra so với cái gì thì cái ấy thành vô giá trị. Đây là cách giải thích dân gian, chưa có tài liệu ngôn ngữ học nào xác nhận.
Ba cách người Nghệ nói “khu mấn”
Gạt đi, phủ định
Đây là cách dùng phổ biến nhất. Ai hỏi “nhà mi giàu lắm hả?”, người kia đáp “giàu cái khu mấn“, nghĩa là chẳng giàu gì. Cấu trúc “cái khu mấn” đứng sau một từ, giống người Bắc nói “giàu cái khỉ” hay “giàu gì mà giàu”.
Chê một việc làm, một thứ không ra gì
“Hắn làm ăn rứa thì được cái khu mấn.” Câu này chê việc làm vô ích, công cốc. Người nói thường không có cảm tình với người hay việc mình đang nhắc tới.
Trêu người ngoài vùng
Người Nghệ hay mời khách: “Ăn quả khu mấn không?” Chẳng có loại quả nào tên như vậy. Ai gật đầu là đã bị trêu, và cả nhà được một trận cười.
Vì nghĩa đen dính đến chỗ mông, cụm này chỉ hợp khi đùa với bạn bè, người nhà. Nói với người lớn tuổi, thầy cô hay trong văn bản thì nên dùng từ khác.
Nói khác đi mà vẫn giữ ý: từ thay thế và từ cùng kiểu
| Từ, cụm từ | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| Khu mấn | Chẳng có gì, chẳng ra gì | Giọng Nghệ, suồng sã |
| Cái khỉ gì, cái con khỉ | Phủ định, gạt đi | Cách nói gần nghĩa ở miền Bắc |
| Chẳng có gì, vô giá trị | Nghĩa trung tính | Dùng được trong văn viết |
| Trốc tru | Đầu trâu, ý chỉ người bướng | Cũng giọng Nghệ, hay đi cặp với khu mấn khi người ta giới thiệu phương ngữ |
Trái nghĩa với khu mấn theo nghĩa bóng là những lời khẳng định giá trị: “có thật”, “ra gì”, “đáng đồng tiền”. Còn người cứng đầu bị gọi là trốc tru thì chuyện ấy được giải ở bài nghĩa chữ đầu trâu của người Nghệ.
Khu mấn giữa vốn từ xứ Nghệ
Khu mấn chỉ là một hạt trong cả kho từ địa phương của Nghệ Tĩnh. Cùng nhà với nó có cươi (sân), đọi (bát), nác (nước), mi (mày), hấn (hắn), răng (sao), rứa (thế). Người ngoài nghe thì lạ, người trong vùng nói thì tự nhiên như hơi thở. Riêng chữ mấn còn được từ điển dẫn kèm một câu ca dao, gắn với hình ảnh người phụ nữ quê tất bật việc nhà.
Muốn nghe giọng Nghệ trong lời hát, lời ru thì có thể đọc những câu ca dao quê hương Nghệ Tĩnh. Ở đó có đủ núi Hồng, sông Lam và cái chất mộc mạc mà khu mấn mang theo.
Người ngoài Nghệ hay hỏi gì về khu mấn
Khu mấn nghĩa là gì?
Nghĩa đen là mông váy, theo tiếng Nghệ. Nghĩa thường dùng là “chẳng có gì”, “chẳng ra gì”, để chê hoặc gạt đi một điều người nói không coi trọng.
Khu mấn là quả gì?
Không có quả nào tên khu mấn. Khi người Nghệ mời “ăn quả khu mấn”, họ đang trêu bạn, giống kiểu mời ăn một món không tồn tại để xem bạn có biết tiếng địa phương không.
Khu mấn là tiếng ở đâu?
Là tiếng của người Nghệ An và Hà Tĩnh. Hai chữ khu (mông) và mấn (váy) đều được từ điển ghi là từ địa phương.
Nói khu mấn có bị coi là thô không?
Có phần thô, vì nghĩa đen nhắc tới chỗ mông. Giữa bạn bè người Nghệ, nó chỉ là câu đùa thân mật; nhưng với người lạ hay người lớn tuổi thì không nên dùng.