Khách thể là cái mà con người hướng tới để nhận thức, tác động hoặc bảo vệ, đứng đối diện với chủ thể là người hành động. Từ này ít gặp trong lời nói hằng ngày nhưng dày đặc ở ba nơi: sách triết học, giáo trình luật và đề cương nghiên cứu khoa học. Vì vậy người tìm “khách thể là gì” thường đang cần một trong ba nghĩa ấy, chứ hiếm khi cần nghĩa chung chung.
| Nghĩa ngắn | Đối tượng mà chủ thể (con người có ý thức, ý chí) nhận thức và tác động vào |
| Gốc từ | Hán Việt 客體: khách là bên ngoài, đối với chủ; thể là thân, cái thực thể |
| Loại từ | Danh từ, thuộc lớp từ thuật ngữ |
| Hay đi với | khách thể nhận thức, khách thể nghiên cứu, khách thể của tội phạm, khách thể của quan hệ pháp luật |
| Tiếng Anh | object (đối lại với subject) |

Khách thể theo từ điển và trong triết học
Từ điển tiếng Việt (bản Hồ Ngọc Đức, đăng trên Wiktionary) giảng khách thể là đối tượng nhận thức và tác động của chủ thể, tức của con người có ý thức và ý chí. Định nghĩa này gọn, và nó chứa đúng cái lõi của mọi cách dùng về sau: phải có một chủ thể thì mới có khách thể.
Trong triết học, cặp chủ thể – khách thể được dùng để nói về quá trình con người hiểu thế giới. Người quan sát là chủ thể; phần thế giới được quan sát là khách thể. Một cánh rừng chưa ai đặt chân tới vẫn tồn tại, nhưng nó chỉ trở thành khách thể nhận thức khi có người bắt đầu đo đạc, ghi chép, tìm hiểu nó. Phạm vi khách thể vì thế rộng ra dần theo trình độ hiểu biết: kính hiển vi đưa vi khuẩn vào tầm nghiên cứu, kính thiên văn đưa các thiên hà xa vào. Muốn hiểu tiếp, xem thêm quá trình con người nhận thức thế giới.
Chữ 客 và chữ 體 ghép lại thế nào?
Khách (客) vốn là người đến từ bên ngoài, đối lại với chủ (主) là người ở trong nhà, người làm chủ. Thể (體) là thân, là cái thực thể có hình. Ghép lại, khách thể là “cái thực thể ở phía bên kia”, cái đứng ngoài người đang hành động. Cùng cách tạo từ ấy có chủ thể (主體), khách quan (客觀), chủ quan (主觀).
Hai cặp này hay bị trộn lẫn. Chủ thể và khách thể là hai danh từ chỉ hai phía của một quan hệ. Còn khách quan và chủ quan nói về cách nhìn, thường dùng như tính từ: nhìn khách quan là nhìn đúng như sự việc vốn có. Phần phân tích riêng về cặp từ khách quan và chủ quan giải thích kĩ hơn chỗ khác nhau này.
Khách thể trong pháp luật: quan hệ pháp luật và tội phạm
Sinh viên luật gặp từ khách thể từ năm nhất. Trong lí luận về quan hệ pháp luật, một quan hệ gồm ba thành phần: chủ thể, nội dung (quyền và nghĩa vụ) và khách thể. Khách thể ở đây là lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các bên mong có được khi bước vào quan hệ ấy. Mua bán một chiếc xe thì khách thể là chiếc xe và khoản tiền; đăng kí bản quyền một cuốn sách thì khách thể là quyền tác giả.
Sang luật hình sự, câu hỏi đổi thành: một việc làm trái luật đã gây tổn hại cho mối quan hệ nào giữa người với người mà Nhà nước đứng ra che chắn? Mối quan hệ đó chính là khách thể của tội phạm. Giáo trình thường chia ba cấp:
- Khách thể chung: mọi quan hệ xã hội nằm trong vòng che chắn của Bộ luật Hình sự.
- Khách thể loại: một nhóm quan hệ cùng tính chất, là căn cứ để xếp các tội vào cùng một chương.
- Khách thể trực tiếp: quan hệ cụ thể mà một tội xâm hại. Hành vi trộm cắp, chẳng hạn, xâm hại trực tiếp quyền sở hữu tài sản.
Điểm dễ sai là đánh đồng khách thể với món đồ bị lấy. Chiếc điện thoại bị trộm chỉ là đối tượng tác động; khách thể là quan hệ sở hữu đứng sau chiếc điện thoại đó.
Khách thể nghiên cứu khác đối tượng nghiên cứu ra sao?
Đây là chỗ học sinh làm dự án và sinh viên viết khóa luận hay lúng túng nhất. Cách nhớ đơn giản: khách thể là phạm vi rộng chứa vấn đề, còn đối tượng là đúng cái khía cạnh mình mổ xẻ bên trong phạm vi ấy. Khách thể trả lời câu “nghiên cứu trên ai, trên cái gì?”, đối tượng trả lời câu “nghiên cứu điều gì ở đó?”.
| Tên đề tài | Khách thể | Đối tượng |
|---|---|---|
| Thói quen đọc sách của học sinh lớp 10 ở một trường THPT | Học sinh lớp 10 của trường | Thói quen đọc sách của các em |
| Hình ảnh con thuyền trong thơ Hàn Mặc Tử | Thơ Hàn Mặc Tử | Hình ảnh con thuyền và ý nghĩa của nó |
| Cách tiểu thương một khu chợ dùng mạng xã hội để bán hàng | Tiểu thương khu chợ | Cách họ bán hàng qua mạng xã hội |
Hai khái niệm có thể đổi vai cho nhau: đối tượng của một đề tài lớn có thể trở thành khách thể của một đề tài nhỏ hơn. Khi viết đề cương, nên đặt tên đề tài trước rồi mới tách hai mục này, vì một tên đề tài được gọi đúng thường đã chứa sẵn cả khách thể lẫn đối tượng.
Từ gần nghĩa, trái nghĩa và những chữ dễ lẫn
Từ trái nghĩa trực tiếp của khách thể là chủ thể. Gần nghĩa nhất là đối tượng, nhưng như đã thấy ở phần trên, trong nghiên cứu khoa học hai từ này không thay thế được cho nhau. Trong lời nói thường, người ta hay dùng “đối tượng” cho dễ hiểu; trong văn bản học thuật, nhất là luật và triết học, nên giữ đúng chữ khách thể.
Còn mấy chữ chỉ giống về âm: khách quan (cách nhìn không thiên lệch), khách sáo (lời lẽ màu mè, giữ kẽ), khách thể chẳng liên quan gì đến khách hàng hay khách mời. Câu ví dụ: “Trong đề tài này, khách thể là 200 học sinh khối 11, còn đối tượng là cách các em quản lí thời gian.”
Những điều người học hay hỏi về khách thể
Khách thể nghiên cứu là gì?
Đó là phạm vi sự vật, hiện tượng hoặc nhóm người chứa vấn đề cần tìm hiểu, là “vật mang” đối tượng nghiên cứu. Ví dụ khách thể là học sinh một trường, còn đối tượng là thói quen đọc sách của các em.
Khách thể của tội phạm là gì?
Đó là mối quan hệ xã hội mà luật hình sự che chắn nhưng đã bị một việc làm phạm tội gây tổn hại. Giáo trình chia nó theo ba cấp từ rộng đến hẹp; đồ vật bị tác động chỉ là đối tượng, không phải khách thể.
Khách thể của quan hệ pháp luật là gì?
Là lợi ích vật chất hay tinh thần các bên nhắm tới, chẳng hạn tài sản trong hợp đồng mua bán hoặc quyền tác giả trong quan hệ bản quyền.
Chủ thể và khách thể khác nhau thế nào?
Chủ thể là bên hành động, có ý thức và ý chí; khách thể là bên chịu sự nhận thức hay tác động. Người đọc sách là chủ thể, cuốn sách được đọc là khách thể.
Khách thể tiếng Anh là gì?
Thường dịch là object, đi cặp với subject (chủ thể).