Hòn vọng phu là tên dân gian gọi những khối đá trên núi có dáng một người phụ nữ, thường đang bồng con, đứng ngóng về phương xa. Tương truyền đó là người vợ chờ chồng lâu đến mức hóa đá. Hai chữ “vọng phu” nghĩa là trông chồng, nên hòn vọng phu còn được gọi là đá trông chồng. Dưới đây là nghĩa chữ, sự tích hòn vọng phu, những nơi có núi Vọng Phu và hình ảnh này trong văn thơ.
| Nghĩa ngắn | Khối đá hình người vợ đứng trông chồng; biểu tượng của lòng chung thủy và nỗi chờ đợi |
| Chữ Hán | 望夫: vọng (trông ngóng) + phu (chồng) |
| Tên gọi khác | Đá trông chồng, núi Vọng Phu, nàng Tô Thị (ở Lạng Sơn) |
| Gặp ở | Nhiều tỉnh, nổi tiếng nhất là Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định |

Hòn vọng phu và người vợ hóa đá
Gần như vùng nào có hòn vọng phu cũng có một câu chuyện riêng, nhưng cái lõi giống nhau: chồng đi xa không về, vợ ngày ngày bồng con lên núi ngóng, đến một hôm cả hai mẹ con hóa thành đá.
Bản được kể nhiều nhất trong sách truyện cổ tích lại mang một nút thắt đau hơn. Hai anh em còn nhỏ thì người anh lỡ tay làm em gái bị thương ở đầu, tưởng em chết nên bỏ nhà trốn đi. Hơn chục năm lưu lạc, anh đến một làng chài, lấy vợ, có con. Một hôm vô tình thấy vết sẹo trên đầu vợ, nghe vợ kể chuyện cũ, anh biết mình đã lấy chính em ruột. Không dám nói ra, anh lặng lẽ đi biển rồi không trở về. Người vợ không hiểu cớ sự, chiều nào cũng bồng con lên núi trông ra cửa biển cho đến khi hóa đá. Truyện có thể đọc trọn ở bài Sự tích hòn Vọng Phu đất Bình Định; ở xứ Lạng thì cùng cốt ấy được kể thành chuyện nàng Tô Thị bồng con chờ chồng.
Những dị bản khác bỏ chi tiết anh em, chỉ kể người chồng ra trận và người vợ chờ mãi. Có lẽ vì thế mà hòn vọng phu gắn với hình ảnh người chinh phụ, người vợ có chồng đi lính, rất gần với nỗi niềm trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
Vọng phu: trông ngóng một người chồng
Chữ vọng (望) nghĩa là nhìn ra xa, trông ngóng, mong mỏi; cùng gốc với hi vọng, kì vọng, tuyệt vọng, vọng gác. Chữ phu (夫) nghĩa là người chồng, như trong phu thê (vợ chồng), phu quân. Ghép lại, vọng phu là trông chồng. Chữ “hòn” đứng trước là cách người Việt gọi một khối đá, một ngọn núi nhỏ: hòn non bộ, hòn đảo, hòn Trống Mái.
Từ tên một khối đá, “hòn vọng phu” dần thành một hình ảnh để nói về con người. Ai chờ người thương quá lâu, bạn bè hay trêu là “sắp thành hòn vọng phu rồi”. Câu đùa ấy nhẹ nhàng, nhưng đằng sau vẫn là nghĩa gốc: sự chờ đợi bền bỉ đến mức thành ra bất động.
Từ ca dao xứ Lạng đến thơ Nguyễn Khoa Điềm
Lạng Sơn có câu ca dao mà gần như học trò nào cũng thuộc, nhắc tới nàng Tô Thị ngay bên phố Kỳ Lừa và chùa Tam Thanh:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Trong đoạn trích Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) học ở lớp 12, Nguyễn Khoa Điềm nhìn những ngọn núi Vọng Phu theo một cách mới: núi non là do số phận con người “góp” vào, chứ đâu riêng gì trời đất tạo ra.
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Đọc kĩ sẽ thấy câu thơ không nhắc một tỉnh nào, cũng không kể lại sự tích. Nhà thơ gom tất cả những người vợ chờ chồng qua bao cuộc chiến vào chữ “những”, và biến hòn đá thành một phần của tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. Phân tích đầy đủ đoạn thơ có ở bài tìm hiểu đoạn trích Đất Nước lớp 12.
Âm nhạc cũng có dấu ấn của hình tượng này: nhạc sĩ Lê Thương viết ba bài Hòn vọng phu, thường được gọi chung là trường ca Hòn vọng phu, sau này còn được chuyển thể lên sân khấu cải lương.
Những ngọn núi mang tên Vọng Phu
- Lạng Sơn: trên núi Tô Thị, gần động Tam Thanh, có khối đá mang dáng nàng Tô Thị bồng con. Đây là hòn vọng phu nổi tiếng nhất, đi vào cả ca dao.
- Thanh Hóa: trong cụm núi đá vôi An Hoạch (núi Nhồi), gần thành phố Thanh Hóa, có hòn Vọng Phu đã được xếp hạng di tích quốc gia.
- Bình Định: ở vùng Phù Cát, trên núi gần cửa biển, gắn với bản truyện người anh lấy nhầm em gái.
Một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên khác cũng có đá được dân địa phương gọi là vọng phu. Hình ảnh người đá chờ chồng không riêng của Việt Nam: Hồng Kông có tảng đá mà người Hoa cũng gọi là 望夫石 (đá vọng phu), kèm một truyền thuyết rất giống.
Đá trông chồng, nàng Tô Thị và hòn Trống Mái
| Tên | Chỉ cái gì | Ý nghĩa gắn kèm |
|---|---|---|
| Hòn vọng phu, đá trông chồng | Tên chung cho các khối đá hình người vợ chờ chồng | Chung thủy, chờ đợi |
| Nàng Tô Thị | Tên riêng của hòn vọng phu ở Lạng Sơn, theo tên nhân vật trong truyện | Như trên, gắn với xứ Lạng |
| Hòn Trống Mái | Hai khối đá đứng tựa vào nhau như đôi gà trống, gà mái (Sầm Sơn, vịnh Hạ Long) | Vợ chồng yêu thương, sum vầy |
| Chinh phụ | Người vợ có chồng đi đánh trận (không phải tên đá) | Nỗi cô đơn, mong chờ |
Hòn Trống Mái là cặp đôi được ở cạnh nhau, còn hòn vọng phu là người ở lại một mình. Nguyễn Khoa Điềm đặt hai hình ảnh ấy liền nhau trong hai dòng thơ, nên đề văn hay hỏi về sự đối sánh này. Khi viết bài, nhớ dùng chữ chung thủy viết với ch để nói về tấm lòng người vợ trong truyện.
Đá vọng phu trên bản đồ và trong câu nói
Hòn vọng phu nghĩa là gì?
Nghĩa đen là hòn đá trông chồng. Nghĩa bóng là biểu tượng của người vợ thủy chung, chờ đợi người chồng đi xa đến cùng; người ta cũng dùng nó để trêu ai đó chờ đợi quá lâu.
Hòn vọng phu ở đâu?
Có nhiều nơi mang tên này. Ba nơi được nhắc tới nhiều nhất là núi Tô Thị ở Lạng Sơn, núi Nhồi ở Thanh Hóa và vùng Phù Cát ở Bình Định.
Sự tích hòn vọng phu kể về ai?
Kể về một người vợ bồng con lên núi ngóng chồng đi xa không về rồi hóa đá. Bản phổ biến có thêm chi tiết người chồng chính là anh ruột lưu lạc của nàng, phát hiện ra sự thật nên bỏ đi biển.
Vì sao hòn vọng phu thường bồng con?
Trong các bản truyện, người vợ đã có con với chồng trước khi chồng đi, nên khi lên núi nàng bồng con theo. Đứa trẻ trên tay làm nỗi chờ thêm nặng: vợ chờ chồng, con cũng chờ cha.