Hôn phu là người đàn ông đã đính hôn, sắp cưới một người phụ nữ, tức chồng chưa cưới; dạng đầy đủ là vị hôn phu. Từ này mang sắc thái trang trọng, hơi cũ, hay gặp trong văn viết, thiệp cưới và giấy tờ. Người nữ ở vị trí tương ứng gọi là hôn thê hay vị hôn thê. Hai người chỉ là hôn phu, hôn thê của nhau trong quãng giữa lễ hỏi và lễ cưới.
| Nghĩa ngắn | Chồng chưa cưới, người đàn ông đã hứa hôn |
| Gốc từ | Hán Việt: hôn 婚 (cưới, việc vợ chồng) + phu 夫 (chồng, đàn ông); đầy đủ là vị hôn phu 未婚夫 |
| Loại từ | Danh từ chỉ người |
| Sắc thái | Trang trọng, sách vở; nói thường thì dùng “chồng sắp cưới” |
| Tiếng Anh | fiancé (nữ: fiancée) |

Hôn phu và chữ 婚 không phải nụ hôn
Đọc lên, nhiều bạn trẻ đùa rằng “hôn phu là hôn chồng”. Câu đùa ấy dễ hiểu, vì tiếng Việt có chữ hôn là áp môi lên má ai đó. Nhưng chữ hôn trong hôn phu là một yếu tố Hán Việt khác hẳn, viết là 婚, nghĩa là cưới, là việc lấy vợ lấy chồng. Đó cũng là chữ hôn trong hôn nhân, hôn lễ, kết hôn, đính hôn, cầu hôn. Chuyện hai chữ hôn cùng âm khác nghĩa được kể kĩ trong bài phân biệt hôn, thơm, hun và hôn trong hôn nhân.
Chữ 婚 gồm bộ nữ 女 bên trái và chữ 昏 bên phải. Chữ 昏 đọc là hôn, chính là chữ trong hoàng hôn, và ở đây chủ yếu cho âm đọc. Còn phu 夫 là người đàn ông trưởng thành, rồi thành nghĩa người chồng, như trong phu thê, phu quân, trượng phu.
Chữ vị 未 ở đầu dạng đầy đủ mới là phần quan trọng: nó có nghĩa là “chưa”. Vị hôn phu là “người chồng chưa cưới”. Người Việt thường bỏ chữ vị cho gọn, nên “hôn phu” trong lời nói hằng ngày được hiểu như vị hôn phu. Trong tiếng Hán hiện đại, từ dùng cho nghĩa này vẫn là 未婚夫 có đủ chữ 未.
Đã hứa cưới nhưng chưa thành chồng
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi vị hôn phu là danh từ, thuộc lớp từ cũ, nghĩa là chồng chưa cưới. Cái mốc làm nên chữ “hôn phu” là lời hứa hôn được hai gia đình công nhận, thường qua lễ ăn hỏi hay lễ đính hôn. Trước mốc đó, người ấy là người yêu, bạn trai; sau lễ cưới, người ấy là chồng.
- Cô dâu giới thiệu hôn phu với họ hàng trong buổi lễ hỏi.
- Anh ấy là vị hôn phu của chị tôi, đám cưới định vào tháng Chạp.
- Chỉ còn một tuần nữa, hôn phu của cô sẽ thành chú rể.
Vì hôn phu gắn với lễ đính hôn, những phong tục quanh lễ ấy có thể đọc thêm ở bài lễ hai nhà hứa gả và hứa cưới. Cần nhớ rằng ở Việt Nam, đính hôn là chuyện phong tục; hai người chỉ thành vợ chồng theo pháp luật khi đăng ký kết hôn.
Hôn phu trong thiệp cưới, hồ sơ visa và truyện dịch
Đời thường, ít ai gọi người yêu sắp cưới của mình là “hôn phu của em”. Từ này sống chủ yếu ở ba chỗ.
Thứ nhất là văn bản trang trọng: thông báo đính hôn, báo chí đưa tin người nổi tiếng sắp cưới. Thứ hai là giấy tờ di trú. Người Việt hay nói “diện bảo lãnh hôn phu, hôn thê” để chỉ diện visa K-1 của Mỹ, loại thị thực cho người nước ngoài sắp cưới một công dân Mỹ; đám cưới phải diễn ra trong 90 ngày kể từ lúc người ấy sang tới nơi. Thứ ba là truyện dịch, phim cổ trang, nơi các nhân vật quý tộc có “vị hôn phu do gia đình định sẵn”.
Ở ba chỗ ấy, hôn phu giữ đúng nghĩa gốc: chưa cưới. Gọi người đã là chồng mình là “hôn phu” là dùng sai, giống như vẫn gọi chú rể là “bạn trai” sau đám cưới.
Bảng xếp hôn phu cạnh hôn thê, phu quân, bạn trai
| Từ | Chỉ ai | Thời điểm | Sắc thái |
|---|---|---|---|
| Hôn phu, vị hôn phu | Người nam | Đã đính hôn, chưa cưới | Trang trọng, sách vở |
| Hôn thê, vị hôn thê | Người nữ | Đã đính hôn, chưa cưới | Trang trọng, sách vở |
| Chồng sắp cưới | Người nam | Như hôn phu | Thường dùng, tự nhiên |
| Chú rể | Người nam | Trong ngày cưới | Gắn với đám cưới |
| Phu quân | Người chồng | Đã cưới | Cổ, kính trọng hoặc đùa |
| Bạn trai, người yêu | Người nam | Chưa hứa hôn | Thân mật |
Đồng nghĩa gần nhất với hôn phu là vị hôn phu và chồng sắp cưới. Từ đối ứng theo giới là hôn thê. Nếu tính theo thời điểm, đứng ở phía “sau” hôn phu là chồng, còn ở phía “trước” là người yêu. Lúc đã cưới xong và còn mới, người ta lại có cách gọi riêng, xem ở bài cặp đôi mới cưới chưa có con.
Một lỗi thường gặp trên mạng: viết “hôn phu” cho cả hai người, kiểu “hai hôn phu chụp ảnh cưới”. Hôn phu chỉ người nam; muốn nói chung cả hai thì dùng “đôi hôn phu hôn thê” hoặc giản dị hơn, “cặp đôi sắp cưới”.
Chồng sắp cưới, fiancé và mấy cách gọi khác
Hôn phu và vị hôn phu có khác nhau không?
Về nghĩa thì không. Vị hôn phu là dạng đầy đủ, có chữ vị 未 nghĩa là “chưa”; hôn phu là cách nói rút gọn. Dạng đầy đủ nghe trang trọng hơn và hay xuất hiện trong văn bản.
Hôn phu tiếng Anh là gì?
Là fiancé, gốc từ tiếng Pháp. Khi chỉ người nữ, tiếng Anh viết fiancée, thêm một chữ e, đọc gần như giống hệt. Sau lễ cưới thì đổi thành husband.
Hôn thê là gì?
Hôn thê là vợ chưa cưới, người phụ nữ đã đính hôn. Chữ thê 妻 nghĩa là vợ, như trong thê tử, phu thê. Hôn thê và hôn phu là một cặp, chỉ khác giới.
Chưa làm lễ hỏi có gọi là hôn phu được không?
Theo nghĩa chặt thì chưa. Hôn phu cần một lời hứa hôn chính thức, thường là lễ hỏi hoặc lễ đính hôn, hay ít nhất là một lời cầu hôn đã được nhận lời. Trước đó, gọi “bạn trai” hay “người yêu” là đúng hơn.