Hát bội là tên người Nam Bộ và một phần miền Trung gọi nghệ thuật tuồng, một loại kịch hát cổ truyền của Việt Nam: diễn viên vẽ mặt, mặc giáp phục rực rỡ, vừa hát vừa múa theo lối ước lệ, kể chuyện trung thần đánh gian thần. Ngoài Bắc người ta quen gọi là tuồng, có nơi gọi hát bộ. Ba cái tên, một bộ môn.
| Nghĩa ngắn | Kịch hát cổ truyền, cùng loại với tuồng; diễn theo lối ước lệ, ca ngợi lòng trung, hiếu, tiết, nghĩa |
| Tên khác | Tuồng (miền Bắc), hát bộ, tuồng cổ |
| Vùng nổi tiếng | Bình Định được xem là cái nôi; hát bội Nam Bộ có lối hát riêng |
| Nơi diễn xưa | Cung đình, rồi sân đình làng vào dịp cúng đình, lễ hội |

Hát bội, hát bộ hay tuồng?
Cả ba tên đều đúng, chỉ khác vùng. Người Hà Nội nói “xem tuồng”, người Sài Gòn, Cần Thơ lại nói “coi hát bội”. Theo các bài khảo cứu về sân khấu Nam Bộ, bộ môn này có mặt ở miền Bắc trước, rồi theo những lớp người di cư vào Nam, và trên đường đi đổi luôn cả tên gọi.
Chữ bội có mấy cách giải thích, chưa cách nào được giới nghiên cứu thống nhất. Cách hay được nhắc là bội trong “gấp bội”, “thập bội”: mọi thứ trên sân khấu đều được phóng to lên nhiều lần, từ tiếng hát, cái liếc mắt cho tới bước chân. Có người lại cho rằng chữ ấy gợi việc đào kép phải đeo, giắt cờ lệnh, lông trĩ lên người. Còn hát bộ thì dễ hiểu hơn: bộ là bộ tịch, động tác; diễn viên tuồng phải đi đúng từng bộ, đứng đúng từng thế.
Lưu ý nhỏ khi viết: “hát bội” là danh từ chỉ cả bộ môn. Nói “đi coi hát bội”, “gánh hát bội”, “nghệ sĩ hát bội” đều tự nhiên; nói “anh ấy hát bội rất hay” thì nghe hơi lạ tai, người trong nghề thường nói “hát tuồng hay” hoặc “diễn hay”.
Từ sân đình đến Học Bộ đình của Đào Tấn
Tuồng có từ bao giờ thì sử sách không ghi một mốc chắc chắn. Một thuyết được nhiều sách dẫn lại: sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thời Trần, có kép hát bên kia bị bắt và được giữ lại để dạy hát múa trong cung. Ngay cả người nêu thuyết này cũng nói rằng ông cha ta chỉ học thêm cách múa, cách vẽ mặt, còn cốt truyện, lời hát vốn đã có sẵn trong dân gian.
Về sau tuồng sống ở hai nơi: trong cung vua phủ chúa và ngoài sân đình. Ở làng, đình thờ thành hoàng, thờ các vị có công, mà tuồng lại toàn chuyện tướng giỏi tôi trung, nên mỗi kỳ cúng đình, mừng lúa mới, làng lại dựng rạp mời gánh hát về.
Đất Bình Định được coi là cái nôi của hát bội. Người ta nhắc Đào Duy Từ, mưu thần của chúa Nguyễn, như vị tiên hiền đã đem lối diễn tuồng vào xứ này. Đến cuối thế kỷ XIX, Đào Tấn (1845–1907) vừa soạn tuồng vừa lập trường dạy hát mang tên Học Bộ đình. Nhiều vở của ông được diễn tới tận bây giờ, và nhà hát tuồng của tỉnh mang tên ông.
Một đêm hát bội diễn ra thế nào?
Cái làm người xem lần đầu chú ý nhất là gương mặt. Diễn viên không đeo mặt nạ mà vẽ thẳng lên da, màu và nét vẽ báo trước tính cách nhân vật. Mặt đỏ thường dành cho bậc trung dũng, người hùng của vở; kẻ nịnh, kẻ phản có những kiểu mặt riêng mà khán giả quen xem chỉ nhìn là đoán được ai sắp làm chuyện xấu.
Sân khấu gần như trống. Người diễn cầm roi ngựa và làm động tác nhún nhảy là đang phi ngựa; vài lá cờ phất qua là cả đoàn xe; mảnh vải xanh căng ngang là dòng sông. Lối ước lệ ấy buộc người xem cùng tưởng tượng, và cũng buộc diễn viên làm cho thật rõ: tay chỉ, mắt liếc, bước đi đều to hơn đời thường, để người đứng tận cuối sân đình vẫn thấy.
Về âm nhạc, tiếng trống, chiêng, kèn và đàn nhị dẫn nhịp cho cả buổi. Lời hát có nhiều điệu: điệu vui, điệu buồn, lối nói lối hát giới thiệu nhân vật khi vừa ra sân khấu. Ở các đình làng Nam Bộ xưa còn có tiếng trống chầu từ phía khán giả: hễ đào kép hát tới chỗ đắt, tiếng trống vang lên như một lời khen.
Nội dung quen thuộc nhất là chuyện “phò vua dẹp loạn”, ngợi ca người giữ trọn trung, hiếu, tiết, nghĩa. Vở Sơn Hậu là ví dụ hay được kể tên nhất.
Tuồng, chèo và cải lương khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Hát bội (tuồng) | Chèo | Cải lương |
|---|---|---|---|
| Vùng gắn bó | Cả ba miền, đậm nhất ở Bình Định, Nam Bộ | Đồng bằng Bắc Bộ | Nam Bộ |
| Đề tài thường gặp | Chuyện triều đình, trung thần và gian thần | Chuyện làng quê, thân phận người phụ nữ | Chuyện tình, chuyện gia đình, cả chuyện xưa lẫn đời mới |
| Lối diễn | Cách điệu mạnh, vẽ mặt, động tác phóng đại | Mềm mại, có vai hề pha trò | Gần đời thường hơn, hát vọng cổ |
| Ra đời | Cổ, chưa rõ mốc | Cổ, gốc dân gian | Muộn hơn, đầu thế kỷ XX |
Nhiều người lớn tuổi ở miền Tây gọi chung mọi thứ có sân khấu là “hát”, nên nghe “đi coi hát” chưa chắc đã là coi hát bội. Muốn rõ thì phải hỏi tiếp: hát bội hay cải lương?
Học sinh gặp tuồng ở đâu trong sách Ngữ văn?
Trong chương trình mới, học sinh lớp 10 đọc các đoạn trích từ tuồng hài Nghêu, Sò, Ốc, Hến. Đây là vở tuồng hài, cười cợt bọn quan lại tham lam, khác hẳn giọng trang nghiêm của tuồng pho. Có thể đọc phần giới thiệu ở bài tìm hiểu đoạn trích Huyện Trìa xử án. Đặt cạnh đó, đoạn chèo Kim Nham với cảnh Xúy Vân giả dại cho thấy hai lối kịch hát cổ khác nhau thế nào ngay trên trang sách.
Còn nếu muốn nghe cho đúng một câu hát bội, đừng tìm bản thu ngắn trên mạng. Ra rạp, ngồi gần sân khấu, chờ lúc nhân vật mặt đỏ bước ra trong tiếng trống dồn.
Hát bội qua mấy câu người xem mới hay đặt ra
Hát bội có phải là tuồng không?
Phải. Hát bội và tuồng là hai tên gọi của cùng một loại kịch hát cổ truyền. Miền Bắc quen nói tuồng, Nam Bộ quen nói hát bội; các nhà hát chuyên nghiệp cũng dùng cả hai tên.
Vì sao gọi là hát bội?
Có nhiều cách giải thích. Phổ biến nhất là chữ bội trong “gấp bội”, ý nói mọi động tác, giọng hát đều được phóng đại nhiều lần so với đời thường. Một cách khác gắn chữ bội với việc diễn viên đeo cờ, giắt lông trĩ trên trang phục.
Hát bội và cải lương khác nhau thế nào?
Hát bội cổ hơn, diễn cách điệu, vẽ mặt, đề tài chủ yếu là chuyện triều đình. Cải lương ra đời muộn hơn ở Nam Bộ, lối diễn gần đời sống, nổi bật với bài vọng cổ.
Hát bội tiếng Anh là gì?
Thường được giữ nguyên tên tuồng hoặc hát bội, kèm lời giải thích như Vietnamese classical opera hay traditional Vietnamese opera.