Ghen là cảm giác khó chịu, tức tối khi nghi người mình yêu (vợ, chồng, người yêu) có tình cảm với ai khác, hoặc khi thấy người khác được hơn mình. Nghĩa thứ nhất thường gọi là ghen tuông, nghĩa thứ hai gần với ghen tị. Một chữ ghen vì thế ôm cả chuyện tình cảm lứa đôi lẫn chuyện so bì hơn thua.
| Nghĩa ngắn | Tức tối vì ngờ người yêu không chung thủy; hoặc khó chịu khi người khác hơn mình |
| Loại từ | Động từ (“ghen với ai”); “cơn ghen”, “máu ghen” là cách dùng như danh từ |
| Gốc từ | Từ thuần Việt, chữ Nôm mượn chữ 慳 để ghi |
| Từ ghép quen | ghen tuông, ghen tị, ghen ăn tức ở, ghen bóng ghen gió, đánh ghen |

Ghen nghĩa là gì trong tiếng Việt?
Một tiếng “ghen” mà có hai hướng rất khác nhau, phải nhìn người bị ghen là ai mới rõ.
Hướng thứ nhất là chuyện yêu đương. Theo từ điển, đó là nỗi bực bội khi biết, hay chỉ cần ngờ, rằng vợ, chồng hoặc người yêu không còn một lòng với mình. Ở đây có ba người: mình, người mình yêu và một “người thứ ba” có thật hoặc tưởng tượng. Ví dụ: Thấy bạn trai nhắn tin với cô đồng nghiệp đến khuya, cô ấy ghen ra mặt.
Hướng thứ hai không cần tình yêu. Ta ghen với người được hưởng cái mình muốn mà không có: điểm cao hơn, nhà đẹp hơn, được thầy khen nhiều hơn. Ví dụ: Thằng em ghen với chị vì mẹ mua cho chị đôi giày mới. Nét này cũng là nghĩa của chữ ghen trong câu Kiều “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”: trời đất không yêu ai, chỉ ganh với người tài sắc quá mức.
Ghép thêm tiếng, nghĩa được khóa lại: ghen tuông chỉ dùng cho tình yêu nam nữ, còn ghen tị, ghen ăn tức ở chỉ dùng cho chuyện so bì.
Ghen tuông, ghen tị, đố kị, gato: bảng phân biệt
| Từ | Ghen với ai, vì cái gì | Sắc thái |
|---|---|---|
| Ghen tuông | Với “người thứ ba”, vì sợ mất người mình yêu | Tình cảm lứa đôi; mức nhẹ thì thường tình, quá đà thành nặng nề |
| Ghen tị (ganh tị) | Với người được hơn mình | Khó chịu, so bì, hay gặp ở trẻ con và anh chị em |
| Đố kị | Với người giỏi hơn, muốn họ kém đi | Nặng, có ác ý, mang sắc thái chê trách |
| Ghen ăn tức ở, gato | Với người sung sướng, thành công hơn | Khẩu ngữ, mỉa mai; “gato” là lối nói tắt trên mạng |
| Trái nghĩa | tin tưởng, bao dung (với ghen tuông); mừng cho người, hoan hỉ (với ghen tị) | |
Chỗ dễ trượt nhất là ghen tị và đố kị. Ghen tị dừng ở cảm giác “sao mình không được thế”; đố kị đi xa hơn, mong người kia mất đi cái họ có. Bài chữ đố kị và cái bóng của lòng ganh ghét đi sâu vào nét nghĩa nặng này, còn lối nói của giới trẻ thì có ở bài giải nghĩa chữ gato trên mạng.
Từ Hoạn Thư đến bài thơ Ghen của Nguyễn Bính
Nhắc tới ghen trong văn học Việt, người ta nghĩ ngay tới Hoạn Thư. Biết chồng là Thúc Sinh lén lấy Kiều, nàng không làm ầm ĩ mà bày kế bắt Kiều về làm con ở, bắt hầu rượu, gảy đàn ngay trước mặt chồng. Đến khi bị Kiều xử án, Hoạn Thư chống chế bằng một câu khôn đến lạnh người:
Rằng: Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,
Lời ấy biến cơn ghen thành chuyện “đàn bà ai cũng thế”, và Kiều đành tha. Thành ngữ “ghen như Hoạn Thư” ra đời từ đó. Đoạn trích có ở bài soạn đoạn Hoạn Thư bắt Kiều hầu rượu.
Ca dao thì nói thẳng hơn, coi ghen như một nét tính cách: “Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”. Câu này đứng sau một vế so sánh với vị cay của ớt, nghe vừa trách vừa thương.
Còn Nguyễn Bính viết cả một bài thơ tên Ghen, kể một loạt đòi hỏi vô lí với “cô nhân tình bé”: đừng cười với ai, đừng nghĩ tới ai, đến hơi thở cũng đừng làm ẩm áo khách lạ. Khổ cuối tự thú:
Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi,
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Hai câu ấy cho thấy cái nhìn quen thuộc của người Việt: ghen là mặt trái của yêu. Toàn bài có ở trang bài thơ Ghen của Nguyễn Bính.
Ghen đến mức nào thì thành chuyện?
Đề nghị luận về tình yêu tuổi trẻ đôi khi xoay quanh chữ ghen. Có thể đi theo ba ý.
- Ghen là cảm xúc bình thường. Sợ mất người mình thương là phản ứng tự nhiên, như Nguyễn Bính tự nhận. Một chút ghen cho thấy mình còn để tâm.
- Ghen thành kiểm soát thì đã hỏng. Đòi mật khẩu điện thoại, cấm gặp bạn bè, theo dõi từng tin nhắn không còn là yêu mà là giam người kia lại. Những dấu hiệu này hay được xếp vào nhóm “cờ đỏ” trong một mối quan hệ.
- Ghen thành bạo lực là phạm pháp. Những vụ “đánh ghen” giữa đường, xé áo, quay clip tung lên mạng không phải là chuyện riêng của ai; nó xúc phạm và gây thương tích cho người khác, và có thể bị xử lý theo pháp luật.
Câu Hoạn Thư nói “ghen tuông thì cũng người ta thường tình” chỉ đúng một nửa. Thường tình là cảm giác; còn cách cư xử khi đang ghen thì mỗi người phải tự chịu trách nhiệm.
Ghen ăn tức ở, ghen bóng ghen gió và mấy cách nói quen
Ghen tuông là gì?
Là ghen trong tình yêu nam nữ, nói khái quát. “Tính hay ghen tuông” là kiểu người dễ nghi ngờ người yêu, vợ hoặc chồng, kể cả khi chưa có bằng chứng.
Ghen bóng ghen gió nghĩa là gì?
Là ghen vô cớ, ghen vì những dấu hiệu mơ hồ như “bóng” và “gió”: một cuộc gọi lỡ, một lượt thích ảnh. Thành ngữ này mang ý chê người ghen hơn là trách người bị ghen.
Ghen tị là gì, có giống ghen tuông không?
Không giống. Ghen tị là khó chịu khi thấy người khác hơn mình, không liên quan đến người yêu; ghen tuông thì luôn xoay quanh nỗi sợ mất người mình yêu. Anh em trong nhà có thể ghen tị nhau, nhưng không ai nói họ “ghen tuông”.
Ghen tiếng Anh là gì?
Thường dịch là jealous (danh từ jealousy), hợp với nghĩa ghen tuông. Nghĩa ghen tị gần với envious (envy). Người nói tiếng Anh cũng hay dùng “jealous” cho cả hai, nên khi dịch cần nhìn ngữ cảnh.