Đồng cam cộng khổ là thành ngữ Hán Việt chỉ việc cùng nhau hưởng lúc sung sướng và cùng nhau chịu lúc gian nan, hoàn cảnh nào cũng không bỏ nhau. Người ta hay dùng nó để nói về vợ chồng, bạn bè, đồng đội đã đi qua nghèo khó với nhau. Nghĩa của đồng cam cộng khổ nằm gọn trong hai vị: ngọt và đắng.
| Nghĩa ngắn | Vui sướng cùng hưởng, cực khổ cùng chịu |
| Gốc từ | Hán Việt 同甘共苦: đồng (cùng) + cam (ngọt) + cộng (chung) + khổ (đắng) |
| Loại từ | Thành ngữ, thường làm vị ngữ hoặc định ngữ (“những năm đồng cam cộng khổ”) |
| Sắc thái | Trang trọng, ấm áp, mang ý khen sự thủy chung |

Đồng cam cộng khổ: vị ngọt và vị đắng
Thành ngữ có bốn chữ, chia làm hai cặp đối nhau rất cân. Đồng (同) và cộng (共) cùng mang nghĩa “chung, cùng nhau”. Cam (甘) nghĩa gốc là ngọt, rồi mở ra nghĩa ngon lành, êm ấm. Khổ (苦) nghĩa gốc là vị đắng; từ vị đắng trên đầu lưỡi, chữ này chuyển sang chỉ cảnh khó chịu đựng trong đời.
Như vậy người xưa không nói trừu tượng “chia sẻ vui buồn” mà mượn hẳn cái lưỡi: món ngọt thì cùng ăn, món đắng thì cùng nuốt. Hình ảnh ấy dễ nhớ hơn mọi lời giảng.
Cặp chữ cam – khổ còn gặp lại trong một thành ngữ khác là khổ tận cam lai (苦盡甘來): hết đắng thì ngọt tới, tức qua cơn khổ sẽ đến lúc sướng. Tiếng Trung hiện nay vẫn dùng 同甘共苦 với nghĩa như tiếng Việt. Thành ngữ ấy còn xuất hiện ở cảnh đoàn tụ cuối Truyện Kiều, chuyện được kể ở bài khổ tận cam lai là gì.
Ngọt cùng ăn, đắng cùng nuốt nghĩa là sao?
Mục từ trong các từ điển tiếng Việt giải ngắn: vui sướng cùng hưởng, cực khổ cùng chịu, trong mọi hoàn cảnh đều có nhau. Điều đáng chú ý là vế “khổ” mới là vế nặng ký. Cùng nhau vui thì dễ; người ta khen ai “đồng cam cộng khổ” thường vì họ đã ở lại vào lúc khó.
Thành ngữ này hay đi với ba kiểu quan hệ:
- Vợ chồng: Hai ông bà đồng cam cộng khổ từ thời ở nhà tranh, nay con cháu đầy nhà.
- Bạn bè, đồng đội: Mấy anh em từng đồng cam cộng khổ ở chiến trường, gặp lại vẫn gọi nhau bằng biệt danh cũ.
- Tập thể làm ăn: Quán đông khách rồi, chị chủ không quên mấy nhân viên đã đồng cam cộng khổ từ hồi chỉ bán được chục bát mỗi ngày.
Nó ít hợp với quan hệ thoáng qua. Nói “tôi với anh bán hàng đồng cam cộng khổ” nghe lạc giọng, vì thành ngữ đòi hỏi một quãng đường dài đi chung.
Những câu cùng nhà và những câu ngược nhà
| Nhóm | Thành ngữ, từ ngữ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Gần nghĩa | Chia ngọt sẻ bùi, có phúc cùng hưởng có họa cùng chia, sống chết có nhau | “Chia ngọt sẻ bùi” thiên về san sẻ cái ăn, cái có |
| Gần nghĩa (vợ chồng) | Tào khang, gừng cay muối mặn | Chỉ dùng cho nghĩa vợ chồng gắn bó từ thuở nghèo |
| Trái nghĩa | Qua cầu rút ván, ăn cháo đá bát, có mới nới cũ | Phê phán kẻ quay lưng khi đã hết cần |
Hay dùng lẫn nhất là “đồng cam cộng khổ” với “chia ngọt sẻ bùi”. Câu sau nghiêng về hành động san sẻ từng miếng ăn, từng thứ mình có; câu trước rộng hơn, ôm cả quãng đời cùng gánh vận may lẫn vận rủi. Người đọc văn gặp chữ tào khang (bã rượu, cám gạo) cũng nên biết đó là cách nói riêng về người vợ cùng chồng qua thời đói nghèo.
Nghĩa vợ chồng thủy chung là đề tài ông bà ta nói rất nhiều; có thể đọc thêm các câu ca dao về vợ chồng nghèo mà vẫn thương nhau. Còn tinh thần đỡ nhau lúc hoạn nạn trong cộng đồng thì gần với bài giải nghĩa câu tục ngữ về chiếc lá lành bọc lá rách.
Viết thành ngữ này vào bài văn thế nào?
Trong văn nghị luận hay văn biểu cảm, thành ngữ này đắt nhất khi đặt cạnh một chi tiết cụ thể. Viết suông “hai người đồng cam cộng khổ” thì nhạt; viết “những năm đồng cam cộng khổ, cả nhà chia nhau một nồi cơm độn sắn” thì người đọc thấy ngay vị đắng.
Có vài chỗ hay viết sai:
- Viết thành “đồng cam cộng khổ” là đúng; “đồng cam cọng khổ” hay “đồng cam cùng khổ” đều lệch chữ.
- Không nên tách đôi rồi thêm từ: “đồng cam và cộng khổ” làm mất nhịp bốn chữ.
- Tránh dùng cho chuyện quá nhỏ, như “cả nhóm đồng cam cộng khổ làm bài tập 15 phút”.
Khi bàn về lòng biết chia sẻ, có thể đặt thành ngữ này bên cạnh chữ sẻ chia và chỗ khác với chia sẻ: sẻ chia là việc làm trong một lúc, đồng cam cộng khổ là cả một chặng đường.
Đồng cam cộng khổ trong hôn nhân, tình bạn và câu chữ
Đồng cam cộng khổ nghĩa là gì trong tình yêu, hôn nhân?
Là hai người cùng gánh mọi chuyện của gia đình, từ lúc túng thiếu đến lúc khá giả, không ai bỏ ai khi gặp hoạn nạn. Câu này thường dùng để khen những cặp vợ chồng đi với nhau từ hai bàn tay trắng.
Đồng cam cộng khổ tiếng Anh là gì?
Có thể dịch là share joys and sorrows hoặc through thick and thin. Cụm sau rất gần với sắc thái “dù thế nào cũng ở bên nhau”.
Đồng cam cộng khổ có phải là ca dao không?
Không. Đây là thành ngữ Hán Việt bốn chữ, gốc từ tiếng Hán 同甘共苦. Ý của nó lại gặp nhiều trong ca dao Việt, nhất là những câu nói về nghĩa vợ chồng nghèo.
Đặt câu với đồng cam cộng khổ thế nào cho tự nhiên?
Nên kèm thời gian hoặc hoàn cảnh: Họ đã đồng cam cộng khổ suốt mười năm khởi nghiệp, nên chẳng ai muốn bán công ty cho người lạ.