Để tang là mang trên người một dấu hiệu tang như khăn trắng, áo sô, mảnh băng đen, và giữ một nếp sống kiêng khem trong một thời gian để tỏ lòng thương tiếc người thân vừa mất. Với bậc trên như cha mẹ, người ta còn nói chịu tang; một số nơi gọi là để trở. Để tang bao lâu thì tùy quan hệ với người mất, theo lệ xưa từ ba tháng đến ba năm.
| Nghĩa | Mang dấu hiệu tang để tỏ lòng thương tiếc người mới mất |
| Từ cùng nghĩa | Để chế, để trở (phương ngữ); chịu tang (với bậc trên) |
| Dấu hiệu | Khăn tang, áo sô gai, mũ mấn, băng tang trên tay áo |
| Thời gian | Lệ xưa: 3 tháng đến 3 năm tùy mức thân sơ |
| Vùng miền | Có ở khắp nơi; cách làm khác nhau theo vùng và tôn giáo |

Để tang là để cái gì trên người?
Chữ để ở đây gần với cách nói để râu, để tóc dài: giữ trên mình một thứ trong một quãng thời gian. Còn tang, theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, có mấy nghĩa đi liền nhau: nỗi đau buồn vì người thân mới mất (nhà đang có tang), dấu hiệu ở áo, mũ, đầu để tỏ lòng thương tiếc (áo tang, khăn tang), và cả quãng thời gian mang dấu hiệu ấy (mãn tang).
Vậy để tang là để cái dấu hiệu tang trên người, kèm theo đó là giữ mình trong khoảng thời gian tang. Từ điển ghi thêm hai từ đồng nghĩa là để chế và để trở; chữ sau mang màu phương ngữ. Chịu tang thì hẹp hơn, chỉ dùng khi để tang người bậc trên: chịu tang mẹ, chịu tang ông.
Câu ví dụ: Cả năm học ấy, cậu bạn cùng lớp cài một mảnh khăn tang nhỏ trên ngực áo đồng phục, vì đang để tang bố.
Áo sô, mũ chuối và chiếc gậy tre
Trong tang lễ theo lối cũ, con cháu chính thức mặc đồ tang trong một nghi lễ gọi là lễ thành phục. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, in năm 1915, tả khá kỹ: con trai, con gái, con dâu đội khăn sô, mũ chuối, mặc áo sô, thắt dây lưng bằng chạc; cháu nội thì mũ mấn, khăn trắng; chàng rể thì khăn trắng đi với áo thụng cùng màu. Đồ tang nặng hay nhẹ, thô hay mịn cho biết người mặc đứng ở bậc nào trong quan hệ với người mất.
Hôm đưa ma, nếu cha mất thì con trai chống gậy tre, mẹ mất thì chống gậy vông.
Khi đã để tang, người nhà thường giữ một số điều: ăn mặc giản dị, hạn chế tiệc tùng, hoãn cưới hỏi trong thời gian tang. Những điều này là phong tục, mỗi nhà giữ nhiều hay ít khác nhau. Ở thành phố, đồ sô gai thường chỉ mặc trong mấy ngày tang lễ; sau đó nhiều người đi học, đi làm chỉ đeo một mảnh băng tang đen trên tay áo hoặc cài mảnh vải nhỏ trước ngực. Gia đình cũng làm các tuần cúng sau khi chôn cất, như lễ cúng bảy tuần đến bốn mươi chín ngày.
Vì sao lệ xưa để tang đến ba năm?
Lệ để tang của người Việt chịu ảnh hưởng lễ nghi Nho giáo, chia theo mức thân sơ thành năm bậc, thường gọi là ngũ phục. Nặng nhất là trảm thôi, con để tang cha mẹ ba năm, thực tế tính khoảng 27 tháng. Tiếp đến là tư thôi (một năm hoặc ngắn hơn, như cháu với ông bà), đại công chín tháng, tiểu công năm tháng và ty ma ba tháng cho họ hàng xa dần. Mỗi bậc đi kèm một kiểu áo tang: bậc càng nặng thì vải càng thô, như áo trảm thôi may bằng vải sô xấu và để nguyên không khâu gấu.
Vì sao lại ba năm với cha mẹ? Cách giải thích quen thuộc là đứa trẻ cần chừng ấy năm trong vòng tay cha mẹ mới tự đi đứng được, nên con cũng dành lại chừng ấy năm để tưởng nhớ. Theo Phan Kế Bính, giỗ đầu (tiểu tường) thì bỏ đồ sô gai, gậy, mũ, nhưng vẫn mặc tang cho đến lễ trừ phục sau giỗ hết. Vì đặt nặng chữ hiếu như vậy nên người Việt gọi việc tang là đám hiếu chứ không gọi đám buồn.
Cũng chính Phan Kế Bính, từ hơn một trăm năm trước, đã chê lối ma chay rườm rà, ăn uống tốn kém, có nhà phải cầm ruộng bán nhà để lo cho xong. Ông không chê việc để tang, mà chê việc phô trương. Ý ấy đến giờ vẫn còn nguyên giá trị.
Để tang, chịu tang, có tang, xả tang
| Cách nói | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Để tang | Mang dấu hiệu tang, giữ tang cho người thân đã mất | Để tang bà ngoại |
| Chịu tang | Để tang người bậc trên như cha mẹ, ông bà | Anh ấy đang chịu tang mẹ |
| Có tang | Gia đình vừa có người mất, đang trong thời gian tang | Nhà đang có tang nên hoãn cưới |
| Đưa tang | Đi theo linh cữu ra nơi chôn cất hoặc hỏa táng | Cả xóm đi đưa tang cụ |
| Xả tang | Làm lễ kết thúc thời gian để tang | Sau giỗ hết thì xả tang |
Lễ khép lại thời gian để tang, cùng cách tính ngày và mâm cúng, có ở bài lễ xả tang và cách tính ngày mãn tang. Một chỗ hay viết nhầm: “đi để tang” không phải là đi dự đám. Người ngoài họ đến viếng thì nói đi viếng, đi đưa tang; chỉ người thân trong nhà mới để tang.
Để tang trong từng hoàn cảnh cụ thể
Để tang cha mẹ bao lâu?
Theo lệ xưa là ba năm, thực tế khoảng 27 tháng, gọi là đại tang. Nhiều gia đình bây giờ làm lễ xả tang sau giỗ hết, tức khoảng hai năm, có nhà rút ngắn hơn vì công việc.
Cháu để tang ông bà mấy năm?
Theo lệ cũ, cháu nội để tang ông bà một năm, thuộc bậc tư thôi. Nếu người cha đã mất trước, theo lệ cũ, cháu trai sẽ chống gậy thay cha trong ngày đưa ma ông bà.
Đang để tang có được đi đám cưới không?
Dân gian thường kiêng tổ chức cưới linh đình và hạn chế đi ăn cỗ cưới trong thời gian tang, nhất là đại tang. Đây là phong tục chứ không phải quy định; nhiều người vẫn đến chúc mừng nhưng bỏ băng tang ra trước khi vào tiệc, tùy nếp nhà và ý gia chủ.
Để tang tiếng Anh là gì?
Thường dịch là to be in mourning hoặc to wear mourning. Ví dụ “để tang bố” là to be in mourning for one’s father.