Đánh giá cuối học kì 1 (đề tham khảo) ở trang 180–181 sách Tiếng Việt lớp 1 Kết nối tri thức tập 1 là bài tự kiểm tra sau Bài 81–83. Đề có 4 câu: đọc bài thơ Hoa giấy, đọc đoạn văn Đàn kiến rồi hoàn thiện câu, viết câu văn tả mùa xuân và chọn chữ c/k, ng/ngh, g/gh.

Đề đánh giá cuối học kì 1 gồm những gì?
- Đọc thành tiếng đoạn trích bài thơ Hoa giấy (Nguyễn Lãm Thắng).
- Đọc hiểu: đọc đoạn văn Đàn kiến, điền tiếp hai câu cho đủ ý.
- Viết (nghe – viết hoặc tập chép) hai câu ngắn về mùa xuân.
- Chính tả: chọn c hay k, ng hay ngh, g hay gh.
Trang sách ghi tên bài là Đánh giá cuối học kì, kèm dòng chữ Đề tham khảo: thầy cô có thể dùng đề này hoặc đề khác tương tự để kiểm tra con.
Phần đọc (trang 180)
Câu 1 (trang 180): Đọc
Bài thơ Hoa giấy (Trích), tác giả Nguyễn Lãm Thắng; tranh vẽ cành hoa giấy màu hồng, lá xanh.
Trả lời: Đoạn thơ có hai khổ, tám dòng, mỗi dòng bốn tiếng. Khổ đầu là hai câu hỏi: tên gọi là hoa giấy nhưng sao nắng không làm hoa bạc màu, mưa không làm hoa nhàu nát? Khổ sau trả lời: cánh hoa tuy mỏng như tờ giấy nhưng mưa nắng vẫn tươi màu, rất bền bỉ.
Gợi ý đọc: hai dòng có dấu chấm hỏi đọc lên giọng ở cuối như đang hỏi; ngắt hơi sau dấu phẩy; đọc to, rõ từng tiếng. Chú ý đọc đúng các tiếng: giấy (vần ây), nhàu (vần au), mỏng (vần ong), dẻo (vần eo).
Từ cần hiểu: bạc màu là màu nhạt đi, không còn tươi; nhàu là nhăn nhúm, không phẳng; dẻo dai là bền, chịu được lâu.
Câu 2 (trang 180): Dựa vào bài đọc, hoàn thiện những câu ở dưới
Đoạn văn Đàn kiến (Theo Ông ơi! Vì sao lại thế?, NXB Khoa học và Kĩ thuật, 1996). a. Khi phát hiện mẩu bánh rơi, kiến (…). b. Kiến báo tin cho nhau bằng cách (…).
Trả lời: Đoạn văn kể một chú kiến tìm được mẩu bánh nhưng không tự mang về được, liền về tổ gọi cả đàn đến cùng khiêng. Con điền như sau:
- a. Khi phát hiện mẩu bánh rơi, kiến đi vòng quanh mẩu bánh, biết mình không khiêng nổi nên chạy về tổ gọi bạn.
- b. Kiến báo tin cho nhau bằng cách dùng râu chạm vào râu của bạn.
Bài học nhỏ: việc gì khó, một mình làm không nổi thì cùng nhau làm sẽ xong, giống như đàn kiến đoàn kết.
Phần viết (trang 181)
Câu 3 (trang 181): Viết
“Đào lốm đốm những nụ phớt hồng. Mùa xuân đã đến.” (Theo Vũ Tú Nam); tranh khu vườn có cây hoa trắng, cây đào nở hoa hồng, chim bay.
Trả lời: Con viết hai câu trên vào vở (nghe thầy cô đọc hoặc nhìn sách chép):
- Chữ đầu mỗi câu viết hoa: Đ, M. Mỗi câu kết thúc bằng dấu chấm.
- Tiếng dễ sai: lốm đốm (vần ôm, dấu sắc), phớt (ph, vần ơt), xuân (vần uân), đến (vần ên).
- Ngồi thẳng lưng, cầm bút đúng cách, viết đều nét, giữa các chữ cách nhau một con chữ o.
Từ cần hiểu: lốm đốm là có nhiều chấm nhỏ rải rác; phớt hồng là hồng rất nhạt.
Câu 4 (trang 181): Chọn chữ phù hợp với ô vuông
a. c hay k? con □á, chữ □í. b. ng hay ngh? con □é, □õ nhỏ. c. g hay gh? ghế □ỗ, con □ẹ.
Trả lời:
| Câu | Điền chữ | Vì sao |
| a. c hay k? | con cá, chữ kí | trước a viết c; trước i viết k |
| b. ng hay ngh? | con nghé, ngõ nhỏ | trước e viết ngh; trước o viết ng |
| c. g hay gh? | ghế gỗ, con ghẹ | trước ô viết g; trước e viết gh |
Ghi nhớ quy tắc (đã luyện ở Bài 29: Luyện tập chính tả): k, gh, ngh chỉ đứng trước i, e, ê; c, g, ng đứng trước các chữ còn lại (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư).
Lời nhắc cho phụ huynh
Đề có đủ bốn kĩ năng: đọc to, đọc hiểu, viết và chính tả. Phụ huynh có thể cho con đọc lại bài thơ và đoạn văn, đọc chậm câu ở Câu 3 để con nghe – viết, rồi cùng con soát lỗi. Trước khi làm đề, con nên ôn lại ba bài ôn tập liền trước (Bài 81, 82, 83).