Bài 83: Ôn tập ở trang 178–179 sách Tiếng Việt lớp 1 Kết nối tri thức tập 1 là bài cuối của phần ôn tập học kì 1. Bài có 4 câu: đọc truyện Voi, hổ và khỉ, trả lời câu hỏi, đọc bài thơ Nắng xuân hồng và viết hai câu ca dao về làng quê.

Bài 83: Ôn tập gồm những gì?
- Đọc truyện ngắn Voi, hổ và khỉ (dựa theo một truyện cổ của người Khơ-me).
- Trả lời ba câu hỏi về truyện.
- Đọc bài thơ Nắng xuân hồng của tác giả Nguyễn Sư Giao.
- Viết hai câu ca dao vào vở.
Đọc truyện Voi, hổ và khỉ (trang 178)
Câu 1 (trang 178): Đọc
Truyện Voi, hổ và khỉ; tranh vẽ chú khỉ ngồi vắt vẻo trên đầu con voi to lớn, phía xa con hổ nấp sau bụi cây nhìn ra.
Trả lời: Truyện kể về một mẹo hay của khỉ. Voi thi tài thua hổ nên đến ngày phải nộp mình cho hổ ăn thịt. Khỉ nghĩ ra cách cứu bạn: khỉ ngồi trên lưng voi đến chỗ hẹn, làm ra vẻ oai, lớn tiếng gọi hổ; voi thì cúi đầu đáp lời khỉ thật lễ phép. Hổ nấp trong bụi nhìn thấy, tưởng khỉ là con vật ghê gớm đến mức voi cũng phải sợ, nên hoảng hồn bỏ chạy.
Gợi ý đọc: đọc giọng khỉ to, dõng dạc; giọng voi nhỏ nhẹ, lễ phép. Truyện có lời nói của nhân vật, đứng sau dấu gạch ngang ở đầu dòng.
Từ cần hiểu: nộp mạng là tự đến cho kẻ khác giết; bày mưu là nghĩ ra cách khôn khéo để làm việc gì; điểm hẹn là nơi đã hẹn gặp nhau.
Câu 2 (trang 178): Trả lời câu hỏi
a. Vì sao voi phải nộp mạng cho hổ? b. Những từ ngữ nào chỉ vóc dáng của voi và của khỉ? c. Trong câu chuyện trên, em thích con vật nào nhất? Vì sao?
Trả lời:
- a. Voi đã đọ tài với hổ và bị thua, nên theo giao hẹn, voi phải tự đến nộp mình cho hổ ăn thịt.
- b. Voi có vóc dáng to lớn; khỉ có vóc dáng nhỏ bé.
- c. Con có thể trả lời theo ý mình, ví dụ:
- Con thích khỉ nhất vì khỉ nhỏ bé nhưng thông minh, biết nghĩ cách cứu bạn voi.
- Con thích voi vì voi biết nghe lời bạn, cùng bạn diễn khéo để thoát nạn.
Đọc bài thơ và viết (trang 179)
Câu 3 (trang 179): Đọc
Bài thơ Nắng xuân hồng (Nguyễn Sư Giao); tranh vẽ bạn trai đeo cặp vui vẻ đi trên con đường làng, bên đường có khóm hoa vàng, trên trời có cầu vồng.
Trả lời: Bài thơ có mười dòng, mỗi dòng năm tiếng. Tác giả tả mùa xuân về sau những ngày đông lạnh: nắng ấm áp, cây cối vui tươi nở hoa, chim gọi nhau làm tổ, lúa non xanh mướt, cầu vồng lung linh. Cuối bài, bạn nhỏ trên đường tới trường thấy lòng mình vui phơi phới.
Gợi ý đọc: ngắt hơi ở cuối mỗi dòng, nghỉ dài hơn sau dấu chấm; giọng đọc nhẹ nhàng, vui tươi. Tiếng có vần đã học: xuân (uân), vồng (ông), mênh (ênh), biếc (iêc).
Từ cần hiểu: hớn hở là vui mừng lộ rõ ra ngoài; lá biếc là lá xanh đậm, tươi; mênh mông là rộng lớn, ở đây ý nói niềm vui rất nhiều.
Câu 4 (trang 179): Viết
Hai câu ca dao.
Trả lời: Con viết vào vở hai câu ca dao:
“Làng tôi có luỹ tre xanh”
“Có dòng sông nhỏ uốn quanh xóm làng.”
- Đây là thể thơ lục bát: dòng trên 6 tiếng, dòng dưới 8 tiếng. Dòng 6 tiếng viết lùi vào hơn dòng 8 tiếng một chút.
- Chữ đầu mỗi dòng viết hoa: L, C. Cuối câu ca dao có dấu chấm.
- Tiếng dễ sai: luỹ (vần uy, dấu ngã), uốn (vần uôn), quanh (qu + anh).
Ý nghĩa: hai câu ca dao tả làng quê Việt Nam với luỹ tre xanh và dòng sông hiền hoà, thể hiện tình yêu quê hương.
Ghi nhớ sau Bài 83
Đọc truyện, con chú ý lời của từng nhân vật để đọc đúng giọng. Bài 83 khép lại phần ôn tập; tiếp theo là bài Đánh giá cuối học kì 1 (đề tham khảo) ở trang 180–181.