Công tước là người mang tước công, bậc cao nhất trong năm bậc tước quý tộc thời phong kiến (công, hầu, bá, tử, nam), chỉ đứng dưới vua và các vương. Trong truyện dịch và tin tức về hoàng gia châu Âu, công tước là chữ dùng để chuyển nghĩa duke của tiếng Anh, duc của tiếng Pháp. Người phụ nữ giữ tước này thì gọi là nữ công tước.
| Nghĩa ngắn | Người có tước công, bậc đầu trong năm bậc tước |
| Gốc từ | Hán Việt 公爵: công (bậc trên cùng) + tước (ngôi thứ do vua phong) |
| Loại từ | Danh từ, thường đi kèm tên đất: công tước xứ Cornwall |
| Tiếng Anh | Duke (nam), duchess (nữ) |

Công tước đứng ở bậc nào?
Mục từ công tước trong từ điển tiếng Việt chỉ ghi gọn: người có tước công, ở các nước phương Tây. Lời giảng ngắn vậy nhưng đủ cho thấy hai điều. Thứ nhất, đây là danh từ chỉ người, không phải tên một chức quan. Thứ hai, người Việt gặp chữ này chủ yếu khi đọc sách, xem phim về châu Âu.
Đặt vào thang tước thì dễ hình dung hơn. Năm bậc xếp từ cao xuống thấp là công, hầu, bá, tử, nam; sang tiếng Anh tương ứng với duke, marquess, earl (hoặc count), viscount, baron. Trên công tước chỉ còn nhà vua, các vương và ở một số nước là đại công tước. Vì đứng sát ngai vàng nên tước công ở Anh thường dành cho người trong hoàng tộc, chẳng hạn con trai trưởng của vua luôn mang tước công tước xứ Cornwall.
Ví dụ dùng trong câu:
- Trong tiểu thuyết, chàng công tước trẻ thừa kế cả một vùng đất rộng cùng tòa lâu đài cổ.
- Bản tin nói lễ cưới có mặt nhiều công tước, bá tước của các hoàng gia châu Âu.
Đứng sau công và hầu là tước bá, và chuyện chữ bá tước được dùng để dịch cả earl lẫn count là một câu chuyện dịch thuật thú vị khác.
Chữ 爵 vốn là một chiếc chén rượu
Thiều Chửu giảng chữ tước (爵) trước hết là cái chén rót rượu thời xưa, dáng giống con chim sẻ. Nghĩa ngôi thứ đến sau. Sách Lễ kí, thiên Vương chế, đã ghi rõ chế độ lộc tước của bậc vương gồm năm đẳng: công, hầu, bá, tử, nam.
Chữ công (公) ở đây là bậc trên cùng trong năm đẳng ấy. Cũng chữ này còn có nghĩa chung, của mọi người (công cộng, công bằng), và là tiếng tôn xưng người lớn tuổi, có địa vị. Ghép lại, công tước là người được phong tước công.
Phía châu Âu, duke có gốc từ chữ Latin dux, nghĩa là người dẫn đầu. Thời La Mã, dux là viên tướng cầm quân ở một tỉnh. Qua nhiều thế kỷ, những thủ lĩnh quân sự ấy giữ đất riêng, truyền lại cho con cháu, và danh vị chỉ huy dần thành tước hiệu cha truyền con nối. Vùng đất do công tước cai quản gọi là công quốc, một dạng vùng đất riêng của lãnh chúa thời trung cổ nhưng ở cấp rất cao.
Đại công tước, nữ công tước, quận công khác gì nhau?
| Danh xưng | Chỉ ai | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đại công tước | Grand duke, archduke | Trên công tước; Luxembourg đến giờ vẫn là đại công quốc do một đại công tước đứng đầu |
| Công tước | Duke | Bậc đầu trong năm bậc tước |
| Nữ công tước | Duchess | Người nữ tự mình giữ tước, được phong hoặc thừa kế |
| Công tước phu nhân | Duchess | Vợ của công tước, không tự giữ tước |
| Quốc công, quận công | Tước công ở Việt Nam, Trung Hoa xưa | Thời Lê, quốc công cao hơn quận công |
Tiếng Anh chỉ có một chữ duchess nên người dịch phải tự chọn. Nếu bà ấy là vợ một công tước thì “công tước phu nhân” sát nghĩa hơn; nếu bà thừa kế tước từ cha thì gọi “nữ công tước”. Dễ nhầm nhất là với hầu tước: chữ hầu nghe sang, lại hay đi trong cụm “công hầu”, nhưng hầu tước đứng thấp hơn công tước một bậc. Cái trái ngược với cả hàng tước ấy là thứ dân, những người không có ngôi thứ gì trong triều.
Tước công trong sử Việt và trên trang sách
Việt Nam không dùng chữ “công tước” cho người của mình mà dùng tước có kèm tên đất. Thời Lê, triều đình đặt hai bậc quốc công và quận công, xếp trên hầu, bá, tử, nam. Một người quen thuộc là Nguyễn Bỉnh Khiêm: nhà Mạc phong ông tước Trình Quốc công ngay khi ông còn sống, và dân gian gọi ông là Trạng Trình từ đó. Cụm “công hầu khanh tướng” trong văn cổ cũng mượn hai bậc tước cao nhất để chỉ cả tầng lớp quyền quý, những gia đình mà người xưa gọi là dòng dõi trâm anh thế phiệt.
Học sinh lớp 8 lại gặp thế giới tước hiệu qua một tiếng cười. Trong đoạn trích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục của Mô-li-e, nhà buôn giàu có muốn làm quý tộc đến mức bọn thợ phụ chỉ cần gọi ông bằng những danh xưng sang hơn là được thưởng tiền. Mỗi lần được “nâng bậc” bằng lời, ông lại móc túi. Cái đáng cười là ông mua được tiếng gọi chứ không mua được tước.
Công tước trong truyện dịch và phim châu Âu
Nữ công tước là gì?
Là người phụ nữ giữ tước công, do được phong hoặc thừa kế. Khi người phụ nữ chỉ là vợ của một công tước, tiếng Việt thường gọi là công tước phu nhân, dù tiếng Anh đều viết duchess.
Đại công tước là gì, có cao hơn công tước không?
Có. Đại công tước (grand duke, archduke) đứng trên công tước; ở nhà Habsburg của Áo, archduke là tước của các thành viên hoàng tộc. Luxembourg vẫn là nước duy nhất có một đại công tước làm nguyên thủ.
Công tước tiếng Anh là gì?
Là duke; vùng đất của công tước là duchy, còn bản thân tước vị là dukedom. Tên tước thường viết theo mẫu “Duke of + tên đất”, như Duke of Edinburgh, dịch là công tước xứ Edinburgh.
Công tước có phải là hoàng tử không?
Không hẳn. Ở Anh, nhiều hoàng tử được phong thêm tước công khi lập gia đình, nên một người có thể vừa là hoàng tử vừa là công tước. Nhưng cũng có những dòng công tước thuộc giới quý tộc, không mang dòng máu hoàng gia.
Sang phim cổ trang Trung Quốc, người xem lại quen với tiếng gọi vương gia 王爺, dành cho bậc được phong tước vương, cao hơn cả tước công.