Con mối và con kiến là bài thơ ngụ ngôn của Nam Hương, văn bản đọc thứ ba trong Bài 6 “Bài học cuộc sống” sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức (tập hai), học cùng hai truyện Đẽo cày giữa đường và Ếch ngồi đáy giếng. Chỉ bằng một cuộc đối đáp ngắn giữa hai con vật nhỏ, bài thơ đặt cạnh nhau hai lối sống trái ngược: ăn bám, hưởng thụ và cần cù, biết lo cho tập thể. Dưới đây là toàn văn bài thơ, thông tin tác giả, xuất xứ, thể loại, cách chia đoạn, các giá trị nổi bật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Con mối và con kiến
Nam Hương mất năm 1960, tác phẩm của ông đã hết thời hạn bảo hộ, vì vậy Văn VN giới thiệu toàn văn theo sách giáo khoa:
Con mối trong nhà trông ra
Thấy một đàn kiến đang tha cái mồi
Mối gọi bảo: “Kiến ơi các chú
Tội tình gì lao khổ lắm thay!
Làm ăn tìm kiếm khắp ngày
Mà sao thân thể vẫn gầy thế kia
Chúng ta đây chẳng hề khó nhọc
Mà ồ ề béo trục béo tròn
Ở ăn ghế chéo bàn tròn
Nhà cao cửa rộng, tủ hòm thiếu đâu?”
Kiến rằng: “Trên địa cầu muôn loại
Hễ có làm thì mới có ăn
Sinh tồn là cuộc khó khăn
Vì đàn vì tổ nên thân gầy gò.
Các anh chẳng vun thu xứ sở
Cứ đục vào chỗ ở mà xơi
Đục cho rỗng hết mọi nơi
Nhà kia đổ xuống đi đời các anh”.
(Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập III, Nguyễn Cừ – Phan Trọng Thưởng biên soạn và tuyển chọn, NXB Giáo dục, 1999)

Giải thích từ khó:
- Ồ ề: dáng người béo mập, chậm chạp.
- Ghế chéo: ghế có hai chân bắt chéo nhau và chỗ dựa lưng.
- Vun thu: chăm chút, sắp đặt, lo toan cho nơi ở.
- Xứ sở: chốn mình sinh sống; rộng hơn là quê hương, đất nước.
Thông tin tác giả Nam Hương
Nam Hương (1899 – 1960) là nhà thơ quê ở Hà Nội, thuộc lớp người cầm bút đầu thế kỉ XX. Ông nổi tiếng nhất với mảng thơ ngụ ngôn: mượn chuyện loài vật, đồ vật để nói chuyện người, với lời thơ mộc mạc, dễ nhớ và giàu ý khuyên răn.
Các tập thơ ngụ ngôn tiêu biểu của ông: Ngụ ngôn mới (1935), Gương thế sự (1920), Thơ ngụ ngôn (1937). Ông cũng viết cho thiếu nhi, tiêu biểu là cuốn Bài hát trẻ con (1936).
Việc Con mối và con kiến được chọn in trong một tuyển tập văn học dân gian cho thấy thơ ngụ ngôn của ông rất gần với lối nói, lối nghĩ của dân gian.
Thông tin tác phẩm Con mối và con kiến
Xuất xứ bài thơ Con mối và con kiến
Sách giáo khoa trích bài thơ từ Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập III, do Nguyễn Cừ và Phan Trọng Thưởng biên soạn, tuyển chọn (NXB Giáo dục, 1999). Văn bản ghi rõ tên tác giả Nam Hương, nên khi làm bài em cần nhớ đây là sáng tác có tác giả chứ không phải truyện dân gian khuyết danh.
Hoàn cảnh sáng tác
Không có tài liệu ghi chính xác năm viết bài thơ. Có thể đặt bài thơ trong mạch sáng tác ngụ ngôn của Nam Hương những năm 1920 – 1930, khi ông viết nhiều bài thơ khuyên răn đạo lí, phê phán thói xấu trong xã hội qua hình ảnh loài vật.
Thể loại, thể thơ và phương thức biểu đạt
- Thể loại: truyện ngụ ngôn viết bằng thơ (thơ ngụ ngôn).
- Thể thơ: song thất lục bát – mở đầu bằng một cặp lục bát (6 – 8 chữ), tiếp theo là các nhóm câu 7 – 7 – 6 – 8 luân phiên.
- Phương thức biểu đạt: tự sự là chính (kể cuộc đối thoại), kết hợp biểu cảm và nghị luận.
- Nhân vật: con mối và đàn kiến, được nhân hoá như con người, có lời nói, có quan niệm sống.
Bố cục bài thơ Con mối và con kiến có mấy phần?
Bài thơ chia làm 2 phần theo hai lượt lời:
- Phần 1 (10 dòng đầu, từ “Con mối trong nhà trông ra” đến “tủ hòm thiếu đâu?”): con mối chê đàn kiến vất vả mà gầy, khoe cuộc sống sung túc của mình.
- Phần 2 (8 dòng cuối, từ “Kiến rằng” đến hết): kiến đáp lời, nêu quan niệm “có làm thì mới có ăn” và chỉ ra hậu quả của lối sống đục khoét của mối.
Mối và kiến sống theo quan niệm nào?
- Mối: coi việc lao động vất vả là “tội tình”, là khổ; lấy sự béo tốt, nhà cao cửa rộng làm thước đo hạnh phúc. Đó là lối sống hưởng thụ, ích kỉ, ăn bám vào chính nơi mình ở.
- Kiến: hiểu rằng muốn sống phải lao động, chấp nhận gầy gò vì đàn, vì tổ. Đó là lối sống cần cù, biết gánh vác phần việc chung và lo cho ngày mai.
Giá trị nội dung
Bài thơ phê phán lối sống lười biếng, chỉ lo sướng thân trước mắt, đục khoét của chung để nuôi mình; đồng thời ca ngợi tinh thần lao động chăm chỉ, sống vì tập thể. Lời cảnh báo ở cuối bài khẳng định: kẻ phá hoại nơi mình nương tựa rốt cuộc sẽ tự chuốc lấy diệt vong. Người kể chuyện rõ ràng dành thiện cảm cho kiến.
Giá trị nghệ thuật
- Lấy chuyện con vật để bàn chuyện người – cách giáo huấn kín đáo, tự nhiên của ngụ ngôn.
- Nghệ thuật nhân hoá và đối thoại: hai lượt lời ngắn gọn bộc lộ trọn vẹn tính cách hai nhân vật.
- Thể song thất lục bát nhịp nhàng, nhiều từ ngữ dân dã (“ồ ề”, “béo trục béo tròn”, “đi đời”), dễ thuộc, dễ nhớ.
- Kết thúc bằng lời cảnh báo hàm súc, để người đọc tự rút ra bài học.
Bài học rút ra
Muốn có cuộc sống bền vững phải tự lao động; sống dựa dẫm, phá hoại của chung là tự đẩy mình vào chỗ diệt vong. Mỗi người cần biết sống có trách nhiệm với gia đình, tập thể và quê hương – “vun thu xứ sở” như đàn kiến.
Sơ đồ tư duy Con mối và con kiến

Lời kết
Bài thơ chỉ có mười tám dòng nhưng chứa một bài học vẫn còn nguyên giá trị: “có làm thì mới có ăn”. Để học trọn Bài 6, em xem thêm:
- Soạn bài Con mối và con kiến – trả lời câu hỏi 6, 7, 8 trong sách giáo khoa.
- Tóm tắt Đẽo cày giữa đường và Tóm tắt Ếch ngồi đáy giếng – hai truyện ngụ ngôn cùng bài.