Chơi vơi là tính từ chỉ trạng thái trơ trọi giữa một khoảng trống rộng, không có chỗ nào để bấu víu. Nghĩa đen tả một vật lẻ loi giữa trời, giữa nước; nghĩa bóng tả lòng người hẫng hụt, mất điểm tựa. Hỏi “cảm giác chơi vơi là gì” thì chính là cảm giác ấy: như đang lơ lửng mà không biết bám vào đâu.
| Nghĩa ngắn | Trơ trọi giữa khoảng rộng, không biết bấu víu vào đâu |
| Loại từ | Tính từ, từ láy vần (chơi – vơi) |
| Đồng nghĩa | Chơ vơ; gần nghĩa: lơ lửng, bơ vơ, hẫng hụt |
| Sắc thái | Gợi hình, giàu cảm xúc, hay gặp trong thơ |

Chơi vơi tả cái gì?
Thử nghĩ tới một con thuyền nhỏ giữa biển, nhìn bốn phía chỉ thấy nước. Hay một cánh diều đứt dây, còn bay đó nhưng chẳng còn ai giữ. Hai hình ảnh có chung một điều: vật ở giữa một không gian quá rộng, và không có gì nối nó với mặt đất. Tiếng Việt gọi trạng thái đó là chơi vơi.
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học giảng chơi vơi bằng hai ý: lẻ loi giữa một khoảng trống mênh mông, và không có gì để bám vào. Mục từ kèm ví dụ quen thuộc con thuyền chơi vơi giữa biển cả và cảm giác chơi vơi. Hai ví dụ cho thấy luôn hai nghĩa của từ:
- Nghĩa tả cảnh: Mỏm đá nhô ra chơi vơi trên vực. Ở đây từ cho ta thấy độ cao, độ trống, độ lẻ loi.
- Nghĩa tả lòng: Ngày đầu xa nhà lên thành phố, tôi thấy lòng chơi vơi. Không có cái gì trơ trọi để nhìn, nhưng người đọc hiểu ngay đó là cảm giác mất chỗ dựa.
Về cấu tạo, chơi vơi là từ láy vần: hai tiếng cùng vần “ơi”. Tiếng “chơi” ở đây không mang nghĩa vui chơi; cả từ chỉ có nghĩa khi đi chung hai tiếng. Âm “ơi” kéo dài, mở ra, nghe như chính khoảng không mà từ này đang tả.
“Nhớ chơi vơi” trong Tây Tiến
Học sinh lớp 12 nhớ từ này nhất qua hai câu mở đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Thường thì nỗi nhớ được đo bằng nặng hay nhẹ, nhiều hay ít. Quang Dũng lại đặt nỗi nhớ vào một tính từ chỉ không gian. “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lơ lửng, không có hình hài, không biết đặt vào đâu; nó lan ra cả một vùng núi rừng mênh mông chứ không dừng ở một người hay một kỉ niệm cụ thể. Vần “ơi” của “chơi vơi” còn ngân tiếp vần “ơi” của tiếng gọi “Tây Tiến ơi” ở câu trên, khiến hai câu thơ nghe như một tiếng gọi vọng vào núi.
Các cách cảm nhận khác về chữ này, và về cả khổ thơ đầu, có trong tuyển những bài phân tích Tây Tiến. Khi làm bài, đừng chỉ viết “chơi vơi là nỗi nhớ da diết”: da diết là nói độ mạnh, còn chơi vơi là nói cái không có chỗ bám của nỗi nhớ.
Chơi vơi, chơ vơ, chới với khác nhau ở đâu?
| Từ | Nghĩa chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Chơi vơi | Trơ trọi giữa khoảng rộng, không chỗ bấu víu; nghiêng về cảm giác lơ lửng | Lòng chơi vơi sau buổi chia tay |
| Chơ vơ | Trơ trọi, lẻ loi một mình, nhấn vào sự cô lập | Ngôi nhà chơ vơ giữa cánh đồng |
| Chới với | Động từ: tay chân quờ quạng như sắp ngã, sắp chìm mà không bám được gì | Đứa bé chới với dưới nước |
| Bơ vơ | Lẻ loi, không nơi nương tựa (thường nói về người) | Đứa trẻ bơ vơ giữa chợ |
| Vững vàng | Trái nghĩa: có chỗ dựa, đứng chắc | Bước chân vững vàng |
Chơ vơ và chơi vơi được từ điển xếp là đồng nghĩa, nhưng dùng thì hơi khác: chơ vơ hay đi với vật đứng yên trên mặt đất (cây, nhà, cột), còn chơi vơi gợi cảm giác treo giữa khoảng không. Riêng chữ chơ vơ còn hay bị viết thành “trơ vơ”; cách viết đúng đã có ở bài chơ vơ hay trơ vơ.
Về tâm trạng, chơi vơi đứng gần cảm giác hụt hẫng. Hụt hẫng thường đến sau một chuyện cụ thể (mong mà không được); chơi vơi thì có thể kéo dài, không cần lý do rõ, giống cảm giác của người vừa đổi chỗ ở, đổi trường, chưa tìm được nhịp sống mới.
Đặt câu với chơi vơi
- Trên đỉnh đèo, ngọn đèn của trạm kiểm lâm sáng chơi vơi giữa sương.
- Thi trượt nguyện vọng một, cậu thấy mọi dự định bỗng chơi vơi.
- Tiếng sáo diều chơi vơi trên cánh đồng đã gặt.
- Bố mẹ đi làm xa, căn nhà rộng làm đứa trẻ thấy chơi vơi mỗi tối.
Câu cuối cho thấy chơi vơi rất gần với nỗi cô đơn khi ở một mình, nhưng không trùng: cô đơn là thiếu người bên cạnh, còn chơi vơi là thiếu chỗ bám. Một người giữa đám đông vẫn có thể chơi vơi.
Chơi vơi trong lòng người và trong câu thơ
Cảm giác chơi vơi là gì?
Là cảm giác hẫng, như mất điểm tựa, không biết mình đang đứng ở đâu. Nó hay đến khi cuộc sống thay đổi lớn: xa nhà, ra trường, chia tay một người thân thiết.
Chơi vơi là từ láy hay từ ghép?
Là từ láy, cụ thể là láy vần: hai tiếng chung vần “ơi”, khác phụ âm đầu. Tách riêng từng tiếng thì không còn nghĩa như cả từ.
Viết chơi vơi hay trơi vơi?
Viết là chơi vơi, với “ch”. Dạng “trơi vơi” là lỗi do phát âm lẫn ch và tr.
Chơi vơi tiếng Anh là gì?
Không có từ tương ứng một đối một. Tả cảnh có thể dùng suspended, isolated; tả lòng người thường dùng adrift hoặc lost (feeling adrift).