Chiều sương là truyện ngắn của nhà văn Bùi Hiển, văn bản đọc chính mở đầu Bài 6 Sống với biển rừng bao la sách Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo (tập hai). Bài viết tổng hợp những kiến thức cần nắm về tác phẩm: nội dung văn bản, tiểu sử và phong cách Bùi Hiển, xuất xứ, thể loại, người kể chuyện, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề, sơ đồ tư duy và tóm tắt truyện.
Nội dung văn bản Chiều sương
Truyện dài khoảng mười trang sách, gồm một khung chuyện ở hiện tại và một câu chuyện hồi ức được kể lại. Vì tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, dưới đây là phần lược thuật theo diễn biến kèm vài câu trích ngắn; phần trả lời câu hỏi SGK em xem trong bài soạn bài Chiều sương.

Buổi chiều ở làng chài. Truyện mở ra bằng hình ảnh chàng trai đi dạo trong làng: “Vào một chiều trung tuần tháng Giêng, chàng trai ấy lang thang trong những ngõ hẻm làng.” Sương bay từng luồng, ngoài sông một chiếc thuyền chài đang sửa soạn ra khơi. Chàng rẽ vào nhà lão Nhiệm Bình – ông bạn già đang ngồi đan lưới, quàng manh chiếu vuông làm áo tơi – và nài lão kể chuyện đi biển, nhất là chuyện ma.
Những mẩu chuyện ma của làng biển. Lão Nhiệm Bình kể giọng bình thản: có lần câu đêm thấy dây câu nặng trĩu, kéo lên thì một bóng ma xòa ra rồi biến mất, con mực mồi vẫn nguyên; có người gặp những bóng ma trèo lên ngồi hai bên mạn thuyền, chỉ cần nói “Thôi mà, anh em mình cả, trêu nhau làm gì?” là chúng bỏ đi; ông cụ Bỉnh đi lưới về bị một bầy ma xin cá, nạt một tiếng thì cá trong rổ lại trở về. Chàng trai không tin ma quỷ nhưng thích thú, và đoán rằng trong ý nghĩ người làng chài, cõi sống với cõi chết vốn gần gũi.
Chuyện chiếc thuyền ma. Được hỏi về thuyền ma, lão nhớ lại một chuyến biển thời trai trẻ, khi còn làm chú trai trên thuyền ông Phó Nhụy. Buổi sáng trời đẹp, thuyền đánh được nhiều cá; xế chiều trời đổ ráng ba phương báo cơn tố. Cả thuyền chống bão suốt đêm: bỏ neo, chặt dây neo, rê neo sắt, tát nước, đổ bớt cá, thả buồm xuống biển làm neo cản. Rạng sáng biển lặng nhưng sương mù dày đặc. Một chiếc thuyền lạ hiện ra – thuyền Xin Kính – người trên đó chèo lặng lẽ khác thường, nói thuyền đang ở ngang Cương Gián rồi giương buồm đi trước. Thuyền ông Phó Nhụy chạy theo và vớt được một người đang trôi, trông giống anh Hoe Chước vốn đi bạn trên thuyền Xin Kính. Khi được gọi hỏi, thuyền bên kia im lặng rồi biến mất trong sương; ngay trước mặt hiện ra một khối núi đá, ông Phó Nhụy vội bẻ lái, thoát nạn trong gang tấc.
Sự thật sau chuyến biển. Về đến lạch, Hoe Chước tỉnh lại kể rằng trong cơn bão thuyền Xin Kính đã bị sóng đánh vào núi vỡ tan, có lẽ chỉ mình anh sống sót nhờ ôm được cây chèo nhảy xuống biển trước. Truyện khép lại bằng số phận những người ở lại: “Vợ họ nay vẫn sống trong goá bụa.”
Thông tin tác giả Bùi Hiển
Bùi Hiển (22/11/1919 – 11/3/2009) sinh ở làng Phú Nghĩa Hạ, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An – một vùng quê biển. Thời niên thiếu ông học trường Quốc học Vinh, sớm tiếp xúc với văn học Pháp; ông đặc biệt yêu truyện ngắn của Guy de Maupassant và Nguyễn Công Hoan.
Năm 1940, Bùi Hiển bắt đầu có truyện đăng báo; năm 1941 ông cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Nằm vạ và được chú ý ngay trên văn đàn. Thạch Lam khi ấy nhận xét lối viết của ông giản dị, mạnh mẽ, có nhiều nhận xét tinh vi, là bức tranh có giá trị về sinh hoạt làng xóm. Sau Cách mạng tháng Tám, ông vừa viết văn, làm báo, dịch thuật, vừa đảm nhiệm nhiều công việc ở Hội Nhà văn Việt Nam (là hội viên sáng lập, từng làm Chủ tịch Hội đồng văn xuôi).
Tác phẩm chính: Nằm vạ (1941), Ánh mắt (1961), Trong gió cát (1965), Hoa và thép (1972), Ý nghĩ ban mai (1980), Tâm tưởng (1985), Ngơ ngẩn mùa xuân (1992), Bạn bè một thuở (1999)… Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001 và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2022. Ngoài sáng tác, Bùi Hiển còn dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài.
Phong cách nghệ thuật: Bùi Hiển chủ yếu viết truyện ngắn và bút kí. Truyện của ông đậm màu sắc địa phương, nhất là đời sống dân chài miền biển Nghệ – Tĩnh; lối kể giản dị, tự nhiên, thường pha chút hóm hỉnh, giàu chi tiết quan sát tinh tế về phong tục, tâm lí con người lao động.
Thông tin tác phẩm Chiều sương
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi học sinh hay tra cứu khi chuẩn bị bài.
Chiều sương được in ở đâu?
Văn bản trong SGK được trích in theo Tuyển tập Bùi Hiển, NXB Văn học, 1987, trang 60 – 72. Cuối văn bản ghi năm sáng tác 1941. Một số tài liệu học tập ghi truyện thuộc tập Nằm vạ; khi làm bài, em nên ghi xuất xứ theo chú thích SGK như trên.
Hoàn cảnh sáng tác
Truyện được viết năm 1941, thuộc chặng sáng tác đầu tay của Bùi Hiển, khi ông viết nhiều về đời sống dân chài vùng biển quê hương. Bối cảnh truyện là một làng chài ven biển xứ Nghệ trước Cách mạng tháng Tám; các địa danh Cửa Lò, Cương Gián, cùng những chi tiết như lạch, nha Thương chính xuất hiện trong lời kể giúp câu chuyện mang dấu ấn vùng miền rõ rệt.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: truyện ngắn hiện đại (có yếu tố kì ảo).
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự, kết hợp miêu tả và biểu cảm.
Người kể chuyện và điểm nhìn trong Chiều sương
Truyện có người kể chuyện ngôi thứ ba giấu mình. Phần mở đầu được nhìn qua điểm nhìn của chàng trai; sau đó lão Nhiệm Bình trực tiếp kể các mẩu chuyện ma, xưng “tôi”. Ở câu chuyện thuyền ma, lời kể lại chuyển sang ngôi thứ ba, điểm nhìn đặt vào những người trên thuyền ông Phó Nhụy, trong đó có Bình khi “hồi ấy còn là một chú trai quèn”. Kiểu kết cấu truyện lồng trong truyện này nối thế hệ già với thế hệ trẻ, nối hiện tại với quá khứ.
Nhân vật chính
- Chàng trai: người nghe chuyện, tò mò, thích chuyện kì lạ nhưng không tin ma quỷ.
- Lão Nhiệm Bình: ngư dân già, hiền hậu, người kể chuyện.
- Những người trên thuyền ông Phó Nhụy (ông nhà nghề Phó Nhụy, bác Hoe Trăn, chú trai Bình…) và anh Hoe Chước – người sống sót của thuyền Xin Kính.
Bố cục: Chiều sương có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “không biết từ chối bao giờ”): chàng trai lang thang trong buổi chiều sương và ghé thăm lão Nhiệm Bình.
- Phần 2 (còn lại): những câu chuyện đi biển kì ảo do lão Nhiệm Bình kể – các mẩu chuyện ma và chuyện chiếc thuyền ma của ông Xin Kính.
Nếu chia chi tiết hơn, phần 2 tách thành hai đoạn: những mẩu chuyện ma trêu người sống (đến hết đoạn suy nghĩ của chàng trai) và chuyến biển gặp bão, gặp thuyền ma.
Giá trị nội dung
- Tái hiện chân thực cuộc sống lao động vất vả, nhiều hiểm nguy của ngư dân miền biển: ra khơi, đánh cá, chống chọi với bão tố giữa biển khơi.
- Ca ngợi phẩm chất của người dân chài: gan dạ, dày dạn kinh nghiệm, đoàn kết, giàu tình người (không bỏ bạn đồng hành, cứu người bị nạn).
- Thể hiện quan niệm dân gian về mối quan hệ âm – dương: người chết vẫn gắn bó, gần gũi với người sống; qua đó bày tỏ niềm thương cảm với những người bỏ mình trên biển và những gia đình mất người thân.
- Gợi suy ngẫm về thái độ của con người với biển cả: biển vừa là nguồn sống, vừa là hiểm họa; người làng chài gắn bó, trân trọng và biết sống thuận theo biển.
Giá trị nghệ thuật
- Kết cấu truyện lồng trong truyện, người kể chuyện và điểm nhìn dịch chuyển linh hoạt.
- Đan xen yếu tố thực và ảo; chi tiết kì ảo được kể nửa hư nửa thực, để ngỏ cách lí giải cho người đọc.
- Miêu tả thiên nhiên (sương chiều, biển, cơn bão) sống động, giàu hình ảnh; không khí truyện vừa huyền hoặc vừa ấm áp.
- Ngôn ngữ mang đậm màu sắc địa phương và nghề biển (cố, vô, coi, tố, ráng, lạch, lèo, sải…); giọng kể từ tốn, bình thản.
Ý nghĩa nhan đề Chiều sương
Nhan đề trước hết chỉ thời gian và không gian của khung truyện: buổi chiều tháng Giêng có sương bay, khi chàng trai đến nghe chuyện. Sương cũng là không khí bao trùm câu chuyện thuyền ma – chiếc thuyền Xin Kính hiện ra và biến mất trong sương mù. Vì vậy, chiều sương trở thành hình ảnh của ranh giới mờ nhòe giữa thực và ảo, giữa cõi sống và cõi chết, gợi chất huyền hoặc mà vẫn nhẹ nhàng, ấm áp của toàn truyện.
Sơ đồ tư duy Chiều sương
Sơ đồ dưới đây tóm lược các ý chính để em ôn tập nhanh.

Tóm tắt Chiều sương
Hai bản tóm tắt dưới đây giúp em nắm nhanh cốt truyện trước khi học chi tiết.
Mẫu 1 – Tóm tắt Chiều sương ngắn nhất
Một chiều sương tháng Giêng, chàng trai đến nhà lão Nhiệm Bình nghe kể chuyện ma của làng chài. Lão kể chuyến biển thời trẻ trên thuyền ông Phó Nhụy: thuyền gặp bão suốt đêm, sáng ra gặp thuyền Xin Kính đi trước dẫn đường, vớt được anh Hoe Chước rồi chiếc thuyền kia biến mất, còn thuyền ông Phó Nhụy suýt đâm vào núi đá. Về bờ mới biết thuyền Xin Kính đã vỡ tan trong bão, chỉ Hoe Chước sống sót.
Mẫu 2 – Tóm tắt Chiều sương theo diễn biến
Chàng trai lang thang trong làng chài vào một chiều sương rồi ghé nhà lão Nhiệm Bình, người bạn già vẫn chiều chuộng chàng. Lão kể những chuyện ma gần gũi: ma trêu người câu đêm, ma ngồi mạn thuyền, ma xin cá ông cụ Bỉnh. Chàng hỏi thêm về thuyền ma, lão nhớ lại lần đi biển với thuyền ông Phó Nhụy. Hôm ấy thuyền trúng cá thì trời đổ ráng báo tố; cả thuyền vật lộn với bão đến quá nửa đêm. Sáng ra, trong sương mù, thuyền ông Xin Kính hiện ra, người chèo lặng lẽ lạ thường, báo vị trí rồi giương buồm chạy trước. Thuyền ông Phó Nhụy vớt được một người trôi giữa biển giống anh Hoe Chước bên thuyền Xin Kính. Khi được gọi hỏi, thuyền kia im bặt rồi biến mất; trước mặt hiện ra núi đá, may ông lái bẻ lái kịp. Về đến lạch, Hoe Chước tỉnh lại kể thuyền Xin Kính đã vỡ tan trong bão, những người trên thuyền không ai trở về.
Lời kết
Chiều sương cho thấy tài kể chuyện của Bùi Hiển: từ một buổi chiều bình thường ở làng chài, nhà văn mở ra cả một thế giới lao động gian nan và những niềm tin dân gian đầy tình người. Nắm chắc xuất xứ, bố cục, người kể chuyện và yếu tố thực – ảo là em đã có đủ nền tảng để trả lời câu hỏi đọc hiểu và viết bài phân tích truyện.
Xem thêm:
- Soạn bài Chiều sương – Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo
- Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp): tác giả, tác phẩm, bố cục
- Soạn bài Muối của rừng – Chân trời sáng tạo
- Phân tích Muối của rừng – dàn ý và bài văn mẫu