Chị của mẹ gọi là dì ở miền Trung, miền Nam và trong nhiều gia đình khác; còn không ít nhà miền Bắc gọi chị gái của mẹ là bác, để dành chữ dì cho em gái của mẹ. Chồng của người chị ấy là dượng hoặc bác trai, tùy cách gọi đi trước.
| Nghĩa | Người chị ruột của mẹ, thuộc họ ngoại |
| Cách gọi phổ biến | Dì (cả nước), bác (nhiều nhà miền Bắc) |
| Cách gọi địa phương | Bá, già (phương ngữ, ít gặp) |
| Chồng người ấy | Dượng (nếu gọi dì) hoặc bác trai (nếu gọi bác) |

Chị của mẹ gọi thế nào ở mỗi miền?
Mục từ dì trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi gọn: em gái hoặc chị của mẹ. Theo nghĩa gốc ấy, chữ dì không quan tâm ai sinh trước. Người Huế, người Sài Gòn gọi dì Hai, dì Tư, dì Út theo thứ tự trong nhà ngoại, và người chị lớn nhất của mẹ vẫn là dì như mọi người khác.
Ra Bắc thì khác. Nhiều gia đình ở đây chia vai rất kỹ: ai lớn hơn bố mẹ thì là bác, ai nhỏ hơn mới là chú, cô, cậu, dì. Từ điển ghi nhận thói quen này ở mục bác, coi là nghĩa phương ngữ: cô, cậu hoặc dì ở hàng anh, chị của cha mẹ. Wiktionary tiếng Việt cũng tách hai cách hiểu: dì là em gái của mẹ theo cách gọi miền Bắc, là chị em gái của mẹ theo cách gọi miền Trung và miền Nam.
Thế nên khi một bạn ở Hà Nội nói “bác Hằng là chị mẹ tớ”, còn một bạn ở Cần Thơ nói “dì Hai là chị mẹ tui”, cả hai đều đang gọi đúng. Gặp trường hợp chưa rõ, cách an toàn nhất là hỏi mẹ xem cả nhà vẫn gọi thế nào, rồi gọi theo.
- Mai con sang nhà bác Lan, chị cả của mẹ, phụ dọn nhà đón Tết. (nhà miền Bắc)
- Dì Hai gửi lên một thùng xoài, dặn chia cho mấy đứa nhỏ. (nhà miền Nam)
Với các em của mẹ thì ba miền gần như gọi giống nhau: em gái là dì, em trai là cậu, còn vợ chồng họ là mợ và dượng.
Chữ dì đi ra từ chữ 姨
Dì có gốc từ chữ Hán 姨, âm Hán Việt là di. Thiều Chửu giảng chữ này là chị em với mẹ; nghĩa phụ là chị em của vợ. Trong tiếng Hán, 姨 không phân biệt chị hay em, đúng với cách người miền Nam đang dùng. Họ từ của nó có di mẫu (dì), di phụ (dượng), di huynh đệ (anh em con dì).
Người đọc truyện Tàu hay gặp thêm di nương, di thái thái chỉ vợ lẽ. Tiếng Việt cũng giữ một vệt nghĩa ấy: từ điển ghi dì là cách xưng gọi vợ lẽ hoặc vợ kế của cha. Trong truyện cũ, “dì ghẻ” chính là mẹ kế chứ không phải chị em của mẹ, nên đọc phải nhìn ngữ cảnh.
Hai tiếng địa phương bá và già thì ít người thành phố biết. Từ điển xếp cả hai là phương ngữ, cùng nghĩa chị của mẹ; còn cụm “chị em con dì con già” vẫn sống trong lời ăn tiếng nói ở nhiều làng, chỉ những người là con của hai chị em gái. Gặp chữ bá trong ca dao cũ, nên nghĩ ngay đến người chị của mẹ trước khi nghĩ đến “xưng hùng xưng bá”.
Dì, bác, mợ, dượng: những cặp gọi dễ lẫn
Chỗ khó nhất không nằm ở người chị của mẹ, mà ở những người đứng quanh bà ấy. Bảng dưới đặt các cách gọi dễ nhầm cạnh nhau:
| Người cần gọi | Cách gọi | Ghi chú |
|---|---|---|
| Chị gái của mẹ | Dì / bác | Bác ở nhiều nhà miền Bắc |
| Em gái của mẹ | Dì | Cả ba miền đều gọi dì |
| Chồng của dì | Dượng | Từ điển: chồng của cô hay của dì |
| Chồng của bác (chị mẹ) | Bác trai | Đi theo cách gọi người vợ |
| Vợ của cậu | Mợ | Không dùng mợ cho chị gái mẹ |
| Chị gái của bố | Bác / cô | Bên nội; miền Nam thường gọi cô |
Còn một chữ dễ khiến người miền Bắc bối rối khi xuống miền Tây: chế. Đó là tiếng gọi chị, không phải tiếng gọi dì, như bài chữ chế trong giọng nói miền Tây có giải thích. Bên phía nhà chồng thì có vợ của anh trai trong một nhà, cũng là một vai hay bị gọi lẫn.
Vai vế trong họ tính theo bậc của bố mẹ chứ không tính theo tuổi. Con của chị gái mẹ dù nhỏ hơn mình vẫn là anh họ, chị họ. Chuyện “đứa em gọi đứa nhỏ hơn mình bằng anh” vì thế xảy ra khá thường trong các buổi giỗ đông người.
Phía các anh trai của mẹ cũng có chuyện gọi khác nhau theo miền; chuyện anh trai của mẹ gọi là bác hay cậu được tách riêng, kèm cách gọi vợ người ấy.
Bên nội cũng có chỗ dễ lẫn tương tự: chồng của cô nhiều nhà miền Bắc gọi là chú, miền Trung và miền Nam gọi là dượng, như giải thích ở cách gọi chồng của cô.
Sẩy mẹ bú dì: chữ dì trong lời ông bà
Câu tục ngữ quen thuộc nhất về người dì là “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”. Mất cha thì có chú đỡ đần, mất mẹ thì có dì nuôi nấng. Câu nói cho thấy trong nếp nhà Việt, chị em gái của mẹ là người gần mẹ nhất, sẵn sàng thay mẹ khi cần. Cả từ điển của Viện Ngôn ngữ học lẫn Wiktionary đều chọn câu này làm ví dụ cho chữ dì.
Người viết văn kể về gia đình cũng hay dùng cách gọi theo thứ tự: “dì Ba”, “dì Út”. Viết như vậy vừa cho biết người đó là chị hay em của mẹ, vừa mang đúng giọng miền Nam. Còn nếu bài viết dùng giọng Bắc, gọi “bác Cả” cho người chị lớn nhất của mẹ sẽ tự nhiên hơn. Khi hai họ thông gia gặp nhau, cách xưng hô lại theo một lối khác, có ở bài phép gọi nhau của hai nhà sui.
Một lưu ý nhỏ khi giới thiệu với người ngoài: nói “dì ruột” hay “bác ruột bên ngoại” sẽ rõ hơn hẳn chữ dì trống trơn, vì dì còn có thể là vợ kế của bố, hoặc chỉ là một người phụ nữ quen mà trẻ con gọi cho thân.
Gọi dì, gọi bác: vài tình huống cụ thể
Chị gái của mẹ gọi là dì hay bác?
Cả hai đều đúng. Miền Trung, miền Nam gọi dì; nhiều gia đình miền Bắc gọi bác để phân biệt với em gái của mẹ. Nên theo cách gọi sẵn có trong nhà.
Em gái của mẹ gọi là gì?
Gọi là dì, ở cả ba miền. Chồng của dì là dượng; con của dì là em họ hoặc anh chị họ tùy vai của mẹ mình.
Chồng của chị gái mẹ gọi là gì?
Gọi theo vợ: nếu gọi người chị ấy là dì thì chồng là dượng, nếu gọi là bác thì chồng là bác trai.
Chị của mẹ tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi chung là aunt. Muốn nói rõ thì dùng maternal aunt hoặc my mother’s older sister.