Cảm tính là sự hiểu biết, đánh giá dựa vào cảm giác và ấn tượng trực tiếp, chưa qua suy xét kỹ của lý trí. Trong triết học, cảm tính là giai đoạn đầu của nhận thức. Trong lời nói hằng ngày, “quyết định cảm tính” hay “nhận xét theo cảm tính” chỉ cách làm dựa vào cảm xúc nhất thời hơn là lý lẽ và bằng chứng.
| Nghĩa ngắn | Dựa vào cảm giác, ấn tượng, chưa qua suy xét lý trí |
| Gốc từ | Hán Việt 感性: cảm (rung động, cảm nhận) + tính (tính chất) |
| Loại từ | Danh từ (nhận thức cảm tính); dùng như tính từ trong lời nói thường (rất cảm tính) |
| Đối lập | Lý tính, lý trí |
| Sắc thái | Trung tính trong triết học; hơi chê khi nói về cách đánh giá, quyết định |

Cảm tính: biết bằng giác quan trước đã
Thử nhớ lần đầu bạn cắn một quả chanh. Vị chua, mùi thơm, cái nhăn mặt đến ngay, trước khi bạn biết gì về axit citric. Đó là kiểu hiểu biết mà triết học gọi là cảm tính: thế giới chạm vào mắt, tai, mũi, lưỡi, da, và ta ghi nhận nó.
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, cảm tính là danh từ chỉ giai đoạn đầu của nhận thức, dựa trên cảm giác, chưa nắm được bản chất và quy luật của sự vật. Giáo trình triết học chia giai đoạn này thành ba hình thức nối nhau:
- Cảm giác: từng thuộc tính riêng lẻ, như màu vàng, vị chua.
- Tri giác: hình ảnh trọn vẹn về sự vật đang ở trước mặt: một quả chanh.
- Biểu tượng: hình ảnh còn giữ lại trong đầu khi sự vật đã không còn, như lúc nghe ai nhắc chữ “chanh” là ứa nước miếng.
Cái biết cảm tính nhanh và sống động, nhưng mới chạm lớp vỏ. Muốn hiểu vì sao chanh chua, phải bước lên giai đoạn lý tính với khái niệm, phán đoán, suy luận. Toàn bộ con đường ấy được trình bày ở bài hai chặng của quá trình nhận thức.
感性: chữ cảm gặp chữ tính
Chữ cảm (感) gồm bộ tâm (心) ở dưới, nghĩa gốc là động lòng, có cảm giác trước điều gì đó. Họ từ của nó rất gần gũi: cảm xúc, cảm nhận, cảm động, nhạy cảm. Chữ tính (性) cũng có bộ tâm, chỉ tính chất, bản tính, như trong tính cách, lý tính, nhân tính.
Ghép lại, cảm tính là “phần thuộc về cảm giác” trong con người. Cặp đối của nó dựng theo đúng khuôn ấy: lý tính (理性) là phần thuộc về lẽ, về suy luận. Nhìn hai chữ đứng cạnh nhau, ta thấy ngay chúng là hai mặt của cùng một người chứ không phải hai loại người khác nhau.
Cảm tính, cảm xúc, lý trí đặt cạnh nhau thì sao?
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Cảm tính | Cách biết, cách đánh giá dựa vào ấn tượng giác quan và cảm xúc | Chấm bài theo cảm tính, thấy chữ đẹp là cho điểm cao |
| Cảm xúc | Trạng thái vui, buồn, giận, sợ đang có trong lòng | Cảm xúc dâng trào khi nhận giấy báo đỗ |
| Trực giác | Hiểu ngay mà không cần lập luận từng bước | Trực giác mách bảo con đường này sai |
| Lý tính, lý trí | Suy xét bằng lý lẽ, bằng chứng, quy luật | Lý trí bảo nên đọc kỹ hợp đồng trước khi ký |
| Chủ quan | Nhìn theo ý mình, thiếu đối chiếu với thực tế | Đánh giá chủ quan, không hỏi ý ai |
Cảm tính và cảm xúc dễ nhập làm một nhưng không trùng nhau: cảm xúc là cái ta đang thấy trong lòng, cảm tính là lúc ta để cái thấy ấy quyết định thay cho suy xét. Trực giác cũng khác, vì nó thường đến từ kinh nghiệm tích lũy lâu, như bài giải nghĩa chữ trực giác 直覺 phân tích. Đối lập rõ nhất với cảm tính là lý trí, được bàn riêng ở bài sức mạnh của lẽ phải trong suy nghĩ.
Trong câu nói thường, cảm tính hay đi với một vài cụm cố định: theo cảm tính, mang tính cảm tính, quyết định cảm tính, nhận định cảm tính. Hơi thừa nhưng phổ biến là “mang tính cảm tính”; viết “nhận xét còn cảm tính” gọn hơn.
Đề nghị luận: sống cảm tính có đáng trách?
Đề kiểu “Suy nghĩ về việc hành động theo cảm xúc” hay “Lý trí và tình cảm trong cuộc sống” ở THCS, THPT đều chạm đến chữ này. Ba ý có thể triển khai:
- Cảm tính có giá trị thật. Thơ ca, âm nhạc, lòng trắc ẩn đều khởi đầu từ cảm giác. Một người hoàn toàn không cảm tính sẽ khô khan, khó đồng cảm.
- Cảm tính dẫn đường thì dễ lạc. Mua đồ vì thấy quảng cáo đẹp, ghét một bạn chỉ vì cách bạn ăn mặc, tin một tin đồn vì nó khớp với điều mình muốn nghe: đều là để ấn tượng thay cho kiểm chứng.
- Bài học: nghe cảm giác như một tín hiệu, rồi để lý trí kiểm lại. Việc càng lớn, như chọn trường, chọn nghề, vay tiền, càng cần chậm lại một nhịp.
Trong văn chương thì ngược lại, chất cảm tính lại được trân trọng. Một câu nhận xét học sinh hay bị phê “còn cảm tính” là câu như “bài thơ rất hay, em rất thích”, vì nó chỉ nêu ấn tượng mà chưa chỉ ra hay ở chữ nào, hình ảnh nào.
Cảm tính trong lời phê, lời nói hằng ngày
Cảm tính nghĩa là gì khi nói về một người?
Nói ai đó “sống cảm tính” là họ hay quyết định theo cảm xúc lúc đó: vui thì hứa, giận thì bỏ. Câu này thường mang ý nhắc nhở nhẹ, không hẳn là chê nặng.
Nhận thức cảm tính là gì?
Là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, khi con người biết sự vật qua cảm giác, tri giác và biểu tượng. Cái biết này trực tiếp, sinh động nhưng chưa đi tới bản chất bên trong.
Cảm tính và lý tính khác nhau thế nào?
Cảm tính dựa vào giác quan và ấn tượng; lý tính dựa vào khái niệm, phán đoán, suy luận. Hai mặt này đi cùng nhau: cảm tính đưa dữ liệu, lý tính xử lý dữ liệu ấy.
Cảm tính tiếng Anh là gì?
Trong triết học thường dịch là sensibility hoặc sensuous cognition. Khi nói một quyết định “cảm tính”, tiếng Anh hay dùng emotional, subjective hoặc nói based on feelings.