Nữ công gia chánh là cách nói chung các việc khéo tay và việc nhà mà xã hội xưa trông đợi ở người phụ nữ: may vá, thêu thùa, nấu nướng, sắp đặt nhà cửa, lo liệu chi tiêu. Hỏi nữ công gia chánh có nghĩa là gì thì có thể hiểu gọn: tài khéo tay cộng với tài trông coi việc nhà.
| Nghĩa | Các việc may vá, thêu thùa, nấu nướng và quán xuyến gia đình (nói khái quát) |
| Gốc từ | Hán Việt: nữ công 女工 (việc khéo tay của phụ nữ) + gia chánh 家政 (khuôn phép, việc sắp đặt trong nhà) |
| Gắn với | Chữ “công” trong tứ đức công, dung, ngôn, hạnh của Nho giáo |
| Sắc thái | Hơi cũ; nay dùng để khen người khéo việc nhà hoặc gọi tên các lớp học nấu ăn, cắm hoa |

Nữ công gia chánh: tách nữ công, gia chánh
Nữ công, theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), là công việc nội trợ của phụ nữ như may vá, thêu thùa, nấu nướng, nói khái quát; ví dụ được nêu chính là cụm nữ công gia chánh. Chữ công (工) ở đây Thiều Chửu giảng là khéo, làm việc khéo, chứ không phải “công” trong công lao. Vì vậy nữ công thiên về những việc cần đôi tay khéo léo.
Gia chánh (家政) là việc trong nhà. Chữ 政 có hai âm đọc là chánh và chính; Thiều Chửu lấy đúng ví dụ gia chánh và giảng là khuôn phép trị nhà. Nghĩa xưa rộng hơn nấu nướng: cả việc sắp đặt, trông coi mọi chuyện trong gia đình cho ngăn nắp. Wiktionary tiếng Việt ghi gia chánh là từ đã cũ, chỉ việc nấu ăn, nội trợ trong gia đình.
Ghép hai vế, nữ công gia chánh là trọn bộ tay nghề của người nội trợ: khéo kim chỉ và giỏi lo toan việc nhà. Khen ai “giỏi nữ công gia chánh” là khen người ấy nấu ngon, may khéo, nhà cửa đâu ra đấy.
Từ chữ “công” trong tứ đức đến môn học của con gái
Quan niệm này đến từ Nho giáo. Sách Lễ ký và Chu lễ đã nói đến việc dạy phụ nữ bốn điều: phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công. Sang Việt Nam, bốn điều ấy thành tứ đức quen thuộc: công, dung, ngôn, hạnh. Trong đó công chính là nữ công gia chánh, tức tài khéo léo trong việc nhà, đứng đầu danh sách.
Suốt nhiều thế kỉ, đây là một trong những điều nhà trai để ý khi kén dâu. Một cô gái khéo may, nấu ngon được coi là “nết na”, có thể làm dâu nhà người. Tứ đức có mặt trong gia huấn, hương ước và ca dao, nên chữ nữ công gia chánh đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Nữ công gia chánh gồm những việc gì
Không có một danh mục chính thức, nhưng trong cách hiểu phổ biến, cụm từ này bao trùm mấy nhóm việc:
- Kim chỉ: khâu vá quần áo, thêu thùa, đan len, cắt may đơn giản.
- Bếp núc: nấu cơm hằng ngày, làm cỗ ngày giỗ, ngày Tết, muối dưa, làm bánh.
- Trông coi nhà cửa: dọn dẹp, sắp xếp đồ đạc, cắm hoa, bày biện bàn thờ.
- Tề gia: tính toán chi tiêu, chăm sóc con nhỏ, lo việc hiếu hỉ với họ hàng.
Ngày trước, những việc này được dạy trong nhà, mẹ truyền cho con gái, bà truyền cho cháu. Sau này xuất hiện các lớp nữ công gia chánh, rồi các khóa học nấu ăn, cắm hoa, may đo dành cho người muốn học bài bản.
Khi nói về người giỏi việc nhà, tiếng Việt còn có chữ đảm đang (giỏi giang trong công việc, thường là việc gia đình) và chữ nội trợ. Chữ sau hay bị viết nhầm, cách viết đúng có ở bài nội trợ hay nội chợ.
Đừng nhầm với “công tác nữ công” ở cơ quan
| Cách dùng | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nữ công gia chánh | Tài khéo tay và việc nhà của người phụ nữ | Cô ấy giỏi nữ công gia chánh |
| Nữ công (trong cơ quan, đoàn thể) | Công tác phụ nữ, chăm lo quyền lợi lao động nữ | Ban nữ công công đoàn |
| Nữ công nhân | Người lao động nữ làm việc trong nhà máy, xí nghiệp | Nữ công nhân dệt may |
Từ điển Hoàng Phê ghi rõ nghĩa thứ hai của nữ công là công tác phụ nữ trong cơ quan, đoàn thể. Vì vậy “phụ trách nữ công” ở công ty không liên quan gì đến chuyện nấu nướng.
Nữ công trong thơ văn xưa và cách nhìn hôm nay
Trong nguyên tác chữ Hán Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, chữ 女工 xuất hiện khi tả người vợ nhớ chồng đến biếng cả việc kim chỉ, thêu dệt. Nỗi buồn được đo bằng chính việc nữ công bỏ dở. Ca dao cũng có rất nhiều câu khen người phụ nữ khéo tay, đảm việc, gom lại ở bài những câu ca dao viết về người đàn bà Việt.
Hôm nay, cụm từ được nhìn lại khá nhiều. Việc nhà không còn được coi là của riêng phụ nữ; nhiều gia đình chia đều bếp núc, giặt giũ cho cả vợ lẫn chồng. Kỹ năng nấu ăn, khâu vá vẫn đáng quý, chỉ có điều nó là kỹ năng sống của mọi người chứ không phải tiêu chuẩn để chấm điểm một cô gái.
Song song với tài khéo việc nhà, con gái nhà gia giáo xưa còn được khen nếu thạo cầm kỳ thi họa, tức đàn, cờ, thơ, tranh.
Thắc mắc về nữ công gia chánh
Nữ công gia chánh có nghĩa là gì?
Là các việc may vá, thêu thùa, nấu nướng và trông coi nhà cửa của người phụ nữ, nói gộp lại. Nữ công là việc khéo tay, gia chánh là việc sắp đặt trong nhà.
Gia chánh hay gia chính mới đúng?
Cả hai đều là cách đọc của chữ 家政. Từ điển Thiều Chửu ghi chữ này đọc là chánh, cũng đọc là chính. Âm chánh đã cố định trong cụm nữ công gia chánh, nên khi nói cả cụm, người ta gần như chỉ dùng “gia chánh”.
Đàn ông giỏi nữ công gia chánh thì gọi là gì?
Tiếng Việt không có từ riêng. Người ta vẫn nói vui “anh ấy giỏi nữ công gia chánh”, hoặc khen là khéo việc nhà, nấu ăn giỏi. Cách nói ấy cho thấy cụm từ đã dần rời khỏi nghĩa chỉ dành cho phụ nữ.
Công dung ngôn hạnh là gì?
Là tứ đức Nho giáo đặt ra cho phụ nữ: công là khéo léo việc nhà, dung là dáng vẻ, ngôn là cách nói năng, còn hạnh là nết na, đạo đức. Nữ công gia chánh ứng với chữ công.