Ca dao về Hà Nội là những câu hát dân gian về đất Thăng Long xưa: hồ Gươm, Tây Hồ, sông Tô Lịch, thành Cổ Loa, ba mươi sáu phố phường và các làng nghề ven đô. Bài này chọn 11 câu tiêu biểu, mỗi câu đã được đối chiếu với ít nhất hai nguồn như Wikipedia, Wikiquote, sách giáo khoa và các trang giải bài tập chép đúng văn bản. Các câu được chia thành ba nhóm: cảnh sắc kinh kỳ, phố phường và người Tràng An, làng nghề ven đô.

Ca dao về cảnh sắc Thăng Long – Hà Nội
Nhóm đầu là những câu nổi tiếng nhất, có mặt trong sách giáo khoa. Mỗi câu gắn với một vài địa danh còn đến hôm nay.
- Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
Giải nghĩa: “Trấn Vũ” là đền Quán Thánh, theo Wikipedia có từ thời Lý, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, một trong bốn ngôi đền trấn giữ kinh thành. Thọ Xương là tên huyện cũ ở trung tâm Hà Nội. Yên Thái là làng làm giấy dó ven Hồ Tây, tiếng chày giã vỏ dó vang lên từ sáng sớm. “Mặt gương Tây Hồ” là mặt hồ phẳng lặng như gương. Bốn dòng ghép âm thanh, khói sương và mặt nước thành một bức tranh buổi sớm ở kinh thành. Đây là bài số 1 trong văn bản Chùm ca dao về quê hương đất nước (Ngữ văn 6, Kết nối tri thức). - Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này
Giải nghĩa: Kiếm Hồ là hồ Hoàn Kiếm. Theo Wikipedia, cầu Thê Húc và Tháp Bút do nhà nho Nguyễn Văn Siêu cho dựng khi tu sửa đền Ngọc Sơn năm 1865; Tháp Bút có ba chữ “Tả thanh thiên” (viết lên trời xanh). Câu hỏi cuối không cần trả lời: nó nhắc người xem cảnh nhớ công những người đi trước đã gây dựng nên non nước. - Thăng Long, Hà Nội đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Giải nghĩa: “đô thành” là kinh đô. Cách khen cảnh đẹp “như tranh họa đồ” cũng gặp trong ca dao xứ Nghệ, xứ Huế. Một bản dài hơn có thêm hai dòng nhấn vào bề dày lịch sử:
Thăng Long, Hà Nội đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Cố đô rồi lại tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây - Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải nhãn hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng
Giải nghĩa: sông Tô Lịch xưa là dòng sông lớn chảy qua nhiều làng phía tây kinh thành. Bài ca dao vẽ một làng ven đô yên bình với lũy tre, hàng vải, hàng nhãn và đàn cá, khác hẳn hình ảnh dòng sông ngày nay. - Ai về đến huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường
Trải qua năm tháng, nẻo đường còn đây
Giải nghĩa: “Thục Vương” là An Dương Vương Thục Phán. Wikipedia ghi rằng vào thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán chọn Cổ Loa làm kinh đô; vùng đất ấy nay thuộc Đông Anh, chỉ cách nội thành chừng mười lăm cây số. Thành có nhiều vòng xoáy như con ốc nên gọi là Loa Thành.
Ca dao về phố phường và người Tràng An
Khu buôn bán của kinh thành được dân gian gọi chung là “ba mươi sáu phố phường”. Người Hà Nội xưa còn được gọi là người Tràng An, nổi tiếng thanh lịch.
- Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Giải nghĩa: “Long Thành” là thành Thăng Long. Theo Wikipedia, bài ca này được Dương Quảng Hàm ghi trong Việt Nam thi văn hợp tuyển; các dòng sau lần lượt kể tên phố theo món hàng được bán ở đó. Cũng theo Wikipedia, con số 36 chỉ là cách gọi ước lệ chứ không phải đúng ba mươi sáu con phố. Bài ca khép lại bằng hai dòng khen phố xá:
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ - Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Giải nghĩa: hoa nhài dù nhỏ vẫn thơm; người Tràng An dù chưa thật thanh lịch thì cách ăn nói, cư xử vẫn có nề nếp riêng. Câu ca dao vừa khen vừa tự hào về lối sống của người kinh kỳ. - Nhất cao là núi Ba Vì
Nhất lịch, nhất sắc kinh kỳ Thăng Long
Giải nghĩa: theo Wikipedia, đỉnh Ba Vì cao 1.296 m, nóc nhà của Hà Nội bây giờ; còn kinh kỳ Thăng Long được khen là nơi lịch sự, đẹp nhất. Câu ca dao dùng lối so sánh “nhất” quen thuộc của dân gian.

Ca dao về làng nghề và sản vật ven đô
Quanh kinh thành là những làng nghề nuôi sống phố phường: dệt lụa, làm nón, tráng bánh. Ca dao về chúng thường là lời mời rủ hoặc lời khoe.
- Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Vạn Phúc với anh thì về
Vạn Phúc có cội cây đề
Có sông uốn khúc, có nghề quay tơ
Giải nghĩa: “thắt lưng bao” là dải thắt lưng bằng lụa của phụ nữ xưa. Vạn Phúc là làng lụa nổi tiếng, theo Wikipedia nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội. Chàng trai khoe làng mình có cây đề, có sông, có nghề tơ lụa để rủ cô gái về làm dâu. - Thanh Trì có bánh cuốn ngon
Có gò Ngũ Nhạc, có con sông Hồng
Giải nghĩa: Thanh Trì ở phía nam Hà Nội, nổi tiếng với bánh cuốn tráng mỏng. Câu ca dao đặt món ăn bên cạnh gò đất, dòng sông như những thứ làm nên tên tuổi của làng quê. - Muốn ăn cơm trắng cá trê
Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông
Giải nghĩa: làng Chuông (huyện Thanh Oai cũ, nay thuộc Hà Nội) là làng làm nón lá có tiếng. Câu ca dao vừa quảng cáo nón làng Chuông vừa khoe đồng đất no đủ.
Những câu hay bị nhầm là ca dao về Hà Nội
Hà Nội có rất nhiều thơ, bài hát, nên khi tìm ca dao dễ gặp câu bị gắn nhầm nhãn:
- Nhiều đoạn thơ lục bát hiện đại về Hà Nội mùa thu, hoa sữa, phố cổ được các trang tổng hợp gọi là “ca dao”. Nếu câu nhắc tới cảnh vật mới (cầu Long Biên, tàu điện, hoa sữa) và chỉ thấy ở một nguồn, nhiều khả năng đó là thơ của một tác giả cụ thể. Thơ có tác giả về Hà Nội được tập hợp riêng ở bài thơ về Hà Nội.
- Các câu như “Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì…”, “Nhác trông lên chốn kinh đô…”, “Hồ Gươm in bóng Tháp Rùa…” có lưu hành nhưng chúng tôi chỉ tìm thấy ở một trang, nên chưa đưa vào danh sách chính.
- Câu “Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương” là bản đã đổi tên chùa cho hợp với Huế; bản gốc nhắc chuông Trấn Vũ ở Hà Nội. Xem thêm bài ca dao về Huế.
Ý nghĩa và giá trị của ca dao về Hà Nội
Tấm bản đồ kinh thành xưa
Đọc liền các câu sẽ gặp hàng loạt địa danh: Trấn Vũ, Thọ Xương, Yên Thái, Tây Hồ, Kiếm Hồ, Ngọc Sơn, Tô Lịch, Cổ Loa, Vạn Phúc. Nhiều nơi đã đổi tên hoặc đổi diện mạo, nhưng nhờ ca dao người đời sau vẫn hình dung được Thăng Long ngày trước.
Niềm tự hào về đất nghìn năm văn vật
Câu hỏi “Hỏi ai gây dựng nên non nước này?” hay cụm từ “nghìn năm văn vật” cho thấy người hát luôn ý thức về bề dày lịch sử của kinh đô. Đó là niềm tự hào vừa về cảnh đẹp vừa về công sức của cha ông.
Kinh kỳ gắn với làng quê
Bên cạnh hồ, phố, đền đài là làng lụa, làng nón, làng bánh cuốn. Ca dao cho thấy Hà Nội xưa không tách khỏi những làng nghề xung quanh: phố là nơi bán, làng là nơi làm.
Ca dao về Hà Nội trong sách giáo khoa
- Ngữ văn 6, Kết nối tri thức, Bài 4 “Quê hương yêu dấu”: bài “Gió đưa cành trúc la đà…” là bài số 1 trong Chùm ca dao về quê hương đất nước. Xem soạn bài Chùm ca dao về quê hương đất nước.
- Ngữ văn 7 chương trình cũ, bài Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người: có bài “Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ…”.

Câu hỏi thường gặp
Câu ca dao nổi tiếng nhất về Hà Nội là câu nào?
Hai câu được nhắc nhiều nhất là “Gió đưa cành trúc la đà…” và “Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ…”. Cả hai đều từng có trong sách giáo khoa Ngữ văn.
Tiếng chuông Trấn Vũ là chuông ở đâu?
Đó là chuông đền Quán Thánh (Trấn Vũ Quán) bên Hồ Tây, nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền là một trong bốn ngôi đền trấn giữ kinh thành Thăng Long.
Hà Nội có đúng 36 phố phường không?
Không hẳn. Theo Wikipedia, “36 phố phường” là cách gọi ước lệ khu đô thị cổ. Con số ba mươi sáu xuất hiện trong bài ca dao “Rủ nhau chơi khắp Long Thành” và trở thành tên gọi quen thuộc.
Người Tràng An là ai?
Tràng An là tên gọi văn chương của kinh đô, nên người Tràng An chính là người Hà Nội xưa, nổi tiếng thanh lịch như câu “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài…”.
Lời kết
Mười một câu ca dao về Hà Nội ở trên giữ lại dáng hình kinh thành xưa qua tiếng chuông, mặt hồ, con phố và làng nghề. Bạn có thể đọc tiếp các bài trong chuyên mục ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam.