Bệnh thành tích là thói chạy theo những con số, danh hiệu đẹp trên giấy, coi trọng việc báo cáo cho đẹp hơn kết quả thực tế, có khi tới mức nâng điểm, khai khống, che giấu yếu kém. Người ta gọi nó là “bệnh” vì đây không phải lỗi một lần mà là một lối làm việc lan rộng, khó chữa. Cụm từ hay được nhắc nhất khi nói về bệnh thành tích trong giáo dục.
| Nghĩa ngắn | Thói chạy theo thành tích ảo, đặt hình thức lên trên thực chất |
| Cấu tạo | bệnh (căn bệnh, thói xấu) + thành tích (成績: kết quả, công lao đạt được) |
| Loại từ | Cụm danh từ; hay đi với “chạy theo”, “căn bệnh”, “nói không với” |
| Sắc thái | Phê phán, dùng nhiều trên báo chí và trong bài nghị luận xã hội |

Bệnh thành tích là căn bệnh gì?
Chữ “bệnh” ở đây dùng theo lối ví von, như khi ta nói bệnh lười, bệnh sĩ diện. Nó không nằm trong cơ thể ai, mà nằm trong cách một tập thể nhìn vào kết quả. Khi tỉ lệ học sinh giỏi, số danh hiệu thi đua hay con số trong báo cáo trở thành mục tiêu cuối cùng, người ta dễ nảy ra ý làm cho con số đẹp lên thay vì làm cho việc thật tốt lên.
Biểu hiện của bệnh thành tích quen thuộc tới mức nhiều người kể vanh vách:
- Điểm số cho “rộng tay”, lớp nào cũng gần như toàn khá giỏi, trong khi năng lực thật của học sinh không như vậy.
- Giờ dạy, buổi kiểm tra được dàn dựng sẵn cho đẹp khi có đoàn đến dự.
- Báo cáo ghi số liệu cao hơn thực tế để giữ danh hiệu, giữ thứ hạng.
- Giấu chuyện học sinh yếu, bỏ học hay gian lận thi cử để khỏi ảnh hưởng thi đua.
Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động cuộc vận động “Hai không”, khẩu hiệu đầy đủ là “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Từ đó cụm từ này xuất hiện dày đặc trên báo chí, trong các buổi họp và trong đề văn của học sinh.
成績: thành tích vốn là chữ đáng khen
Bản thân chữ thành tích không có gì xấu. Thành (成) là nên, xong, làm được. Tích (績) nghĩa gốc là xe sợi, đánh sợi; về sau chỉ công việc làm dần dần mà ra kết quả, công lao. Cùng họ với nó có công tích, chiến tích, thành tích học tập. Hình ảnh sợi chỉ được xe từng chút một rất đúng với một thành tích thật: phải góp nhặt lâu mới có.
Ghép thêm chữ “bệnh” vào trước, nghĩa đổi hẳn chiều. Cái bị phê phán không phải là thành tích, mà là sự ham thành tích đến mức bỏ qua con đường làm ra nó. Một học sinh đạt giải nhờ ôn luyện chăm chỉ có thành tích; một tập thể ép mọi lớp phải đạt chỉ tiêu bằng mọi giá là đang mắc bệnh thành tích.
Viết đoạn nghị luận về bệnh thành tích thế nào?
Đề “Suy nghĩ về bệnh thành tích trong học tập” hay “Ý kiến của em về hiện tượng chạy theo thành tích” xuất hiện ở cả THCS lẫn THPT. Có thể đi theo bốn ý:
- Giải thích: thành tích là kết quả tốt đạt được; bệnh thành tích là chạy theo kết quả ảo, coi con số quan trọng hơn chất lượng.
- Biểu hiện: nâng điểm, học tủ chỉ để lấy giải, chép bài để có điểm cao, báo cáo khống.
- Nguyên nhân và hậu quả: áp lực thi đua, tâm lí sĩ diện, cách đánh giá chỉ nhìn con số. Hậu quả là người học không biết mình đang ở đâu, niềm tin vào điểm số và bằng cấp bị bào mòn. Áp lực đó đè lên học sinh ra sao có ở bài áp lực điểm số và chuyện học hành của học trò.
- Bài học: học thật, thi thật; trân trọng điểm thấp mà đúng sức hơn điểm cao nhờ gian lận; dám nói ra khi thấy làm sai.
Cái gốc để chống bệnh thành tích là lòng trung thực, nên đoạn kết có thể nối sang phẩm chất không gian dối trong học tập và thi cử. Muốn xem cách triển khai một bài nghị luận xã hội trọn vẹn, có thể đọc thêm bài mẫu nghị luận về một vấn đề xã hội lớp 10.
Thành tích thật, thành tích ảo và những từ gần nghĩa
| Từ, cụm từ | Nghĩa | Sắc thái |
|---|---|---|
| Thành tích | Kết quả tốt đạt được qua cố gắng | Tích cực |
| Thành tựu | Kết quả lớn, có ý nghĩa, sau một quá trình dài | Tích cực, trang trọng |
| Chạy theo thành tích | Cố đạt con số đẹp bằng mọi cách | Chê, gần nghĩa với bệnh thành tích |
| Bệnh hình thức | Chú trọng vẻ bề ngoài, thủ tục hơn nội dung | Chê, rộng hơn bệnh thành tích |
| Thực chất, thực học | Đúng với năng lực, kết quả thật | Trái nghĩa, tích cực |
Bệnh hình thức và bệnh thành tích hay đi đôi nhưng không trùng hẳn. Một buổi lễ rườm rà, tốn kém là hình thức; một bảng điểm được sửa cho đẹp là thành tích ảo. Gần nghĩa còn có những cách nói dân dã như “tô hồng”, “báo cáo láo”, “làm màu”.
Câu ví dụ cho thấy rõ ranh giới: Lớp em năm nay có ít học sinh giỏi hơn năm trước, nhưng cô chủ nhiệm nói đó là con số thật, và cô quý con số ấy hơn.
Từ trường học đến công sở: bệnh thành tích ở nhiều nơi
Bệnh thành tích trong giáo dục là gì?
Là việc nhà trường, giáo viên hoặc cơ quan quản lí đặt nặng tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ khá giỏi, số giải thưởng hơn chất lượng học thật. Biểu hiện dễ thấy là nâng điểm, dạy học đối phó, che giấu học sinh yếu kém.
Ngoài nhà trường, chạy theo thành tích có xuất hiện không?
Có. Ở cơ quan, doanh nghiệp, phong trào, bệnh này hiện ra qua báo cáo vượt chỉ tiêu trên giấy, danh hiệu thi đua được chia đều, công trình làm vội cho kịp ngày khánh thành. Chỗ nào chấm điểm chỉ bằng con số, chỗ đó dễ nảy sinh thành tích ảo.
Khen thưởng học sinh giỏi có phải là bệnh thành tích không?
Không. Khen thưởng kết quả thật là cách ghi nhận cố gắng. Chỉ khi thành tích được tạo ra bằng gian dối hoặc bị đặt làm chỉ tiêu ép buộc, bất chấp sức học thật, thì mới thành bệnh.
Thành tích và thành tựu khác nhau thế nào?
Thành tích thường là kết quả cụ thể của một người, một tập thể trong một giai đoạn, như thành tích học tập năm học này. Thành tựu chỉ kết quả lớn và bền, có ý nghĩa rộng, như thành tựu khoa học, thành tựu của một ngành.