Bài 101: ôi, ơi thuộc phần Học vần của sách Tiếng Việt lớp 1 Cánh diều tập 2, trang 16–17. Con học vần ôi và vần ơi qua hai từ trái ổi, bơi lội. Bài có 4 hoạt động: làm quen, ghép chữ với hình, tập đọc bài thơ Ong và bướm (kèm chọn ý đúng, học thuộc lòng) và tập viết.

Bài 101: ôi, ơi học những gì?
- Biết vần ôi gồm ô và i, vần ơi gồm ơ và i; đánh vần: ô – i – ôi, ơ – i – ơi.
- Đọc trơn trái ổi, bơi lội; ghép đúng sáu từ ngữ với sáu hình.
- Đọc bài thơ Ong và bướm, trả lời vì sao ong không đi chơi; học thuộc lòng bài thơ.
- Tập viết ôi, trái ổi, ơi, bơi lội.
Làm quen, ghép chữ với hình (trang 16)
Câu 1 (trang 16): Làm quen
Trả lời: Sách in hai ảnh:
- Quả xanh và nửa quả bổ đôi, ruột trắng có hạt: trái ổi. Đánh vần: trờ – ai – trai – sắc – trái; ôi – hỏi – ổi.
- Bạn nhỏ đang sải tay bơi trong nước: bơi lội. Đánh vần: bờ – ơi – bơi; lờ – ôi – lôi – nặng – lội.
Từ bơi lội có đủ cả hai vần của bài: bơi (ơi) và lội (ôi). Trái là cách nói của miền Nam, nghĩa là quả.
Câu 2 (trang 16): Ghép chữ với hình cho đúng
Sáu từ ngữ ở giữa: rối nước, phơi thóc, cái chổi, đồ chơi, đĩa xôi, cái nồi. Sáu hình đánh số: (1) con rối mặc áo đỏ nhô lên giữa mặt nước; (2) đĩa xôi màu đỏ cam; (3) cái chổi rơm cán dài; (4) đoàn tàu nhỏ nhiều màu, các toa có in số; (5) cái nồi nhôm có nắp; (6) hai người cào thóc trên sân phơi vàng.
Trả lời:
| Hình 1 | rối nước |
| Hình 2 | đĩa xôi |
| Hình 3 | cái chổi |
| Hình 4 | đồ chơi |
| Hình 5 | cái nồi |
| Hình 6 | phơi thóc |
Trong các từ trên, tiếng có vần ôi là rối, chổi, xôi, nồi; tiếng có vần ơi là phơi, chơi. Rối nước là một môn nghệ thuật dân gian Việt Nam: con rối bằng gỗ biểu diễn trên mặt nước. Phơi thóc là trải thóc ra sân cho nắng làm khô.
Tập đọc và tập viết (trang 17)
Câu 3 (trang 17): Tập đọc
Bài đọc: Ong và bướm (Nhược Thuỷ), bài thơ 12 dòng, mỗi dòng 3 chữ. Sau bài đọc có câu hỏi: Vì sao ong không đi chơi cùng bướm? Chọn ý đúng: a) Vì ong nghe lời mẹ, làm xong việc mới đi chơi. – b) Vì ong không thích chơi với bướm.
Trả lời: Bài thơ Ong và bướm kể chuyện chú bướm trắng đang bay lượn quanh khóm hoa hồng thì gặp một chú ong đang bay vội vàng. Bướm gọi ong lại, rủ cùng đi chơi. Ong đáp mình chưa đi được vì còn bận việc: mẹ đã dặn, khi việc còn dang dở mà bỏ đi chơi thì mẹ không vui. Tranh vẽ chú ong xách chiếc xô nhỏ bay bên cây hoa trắng, chú bướm trắng bay trên khóm hoa hồng đỏ.
Cách đọc:
- Đánh vần tiếng có vần vừa học: vội (vờ – ôi – vôi – nặng – vội), gọi (gờ – oi – goi – nặng – gọi), chơi (chờ – ơi – chơi), lời (lờ – ơi – lơi – huyền – lời), tôi (tờ – ôi – tôi).
- lượn: bay vòng qua vòng lại. chơi rong: đi chơi lang thang, không có việc gì. bay vội: bay nhanh vì có việc gấp.
- Mỗi dòng thơ có 3 tiếng, đọc nhịp đều, ngắt hơi cuối mỗi dòng. Sáu dòng đầu kể về bướm, sáu dòng sau là lời ong.
Ý đúng là a: ong còn việc mẹ giao chưa làm xong và ong nghe lời mẹ, làm xong việc rồi mới đi chơi. Ý b sai vì bài thơ không nói ong không thích bướm; ong chỉ từ chối vì đang bận.
Bài học: phải làm xong việc của mình rồi mới vui chơi, và luôn nhớ lời cha mẹ dặn.
Học thuộc lòng bài thơ
Gợi ý: Con học thuộc theo hai phần. Phần đầu (6 dòng) là chuyện bướm gặp ong và rủ ong đi chơi; phần sau (6 dòng) là câu ong trả lời. Con đọc to mỗi phần ba lần, rồi che sách đọc từng dòng, quên thì nhìn lại. Nhớ thứ tự: bướm lượn – gặp ong – bướm gọi, rủ chơi – ong trả lời bận – mẹ dặn – mẹ không thích đi chơi rong. Ba mẹ có thể cùng con đọc phân vai: một người làm bướm, một người làm ong.
Câu 4 (trang 17): Tập viết
Trả lời: Con viết vào bảng con: ôi, trái ổi, ơi, bơi lội.
- Vần ôi: ô nối i; dấu mũ trên o, dấu chấm trên i.
- trái ổi: chữ t cao 3 li; dấu sắc trên a của trái; dấu hỏi đặt trên dấu mũ của ô.
- Vần ơi: ơ nối i; nhớ dấu râu của ơ.
- bơi lội: chữ b, l cao 5 li; dấu nặng đặt dưới chữ ô của lội.
Cuối trang 16 in bốn vần để con đọc lại: oi, ây, ôi, ơi.
Ghi nhớ sau Bài 101
Tiếng có vần ôi: ổi, lội, rối, chổi, xôi, nồi, vội, tôi. Tiếng có vần ơi: bơi, phơi, chơi, lời. Ba vần oi, ôi, ơi chỉ khác nhau ở chữ đầu (o, ô, ơ). Con so sánh với vần ơn, ơt ở Bài 71: ơn, ơt.