Ấn tượng là hình ảnh, cảm giác mà một người, một cảnh hay một sự việc để lại trong đầu ta sau khi tiếp xúc, kiểu “nhớ mãi cái dáng ngồi ấy”. Đó là nghĩa danh từ, như trong ấn tượng ban đầu hay gây ấn tượng. Khi làm tính từ (một màn trình diễn rất ấn tượng), từ này lại có nghĩa là nổi bật, đủ sức khiến người ta khó quên.
| Nghĩa ngắn | Hình ảnh, cảm xúc còn đọng lại sau khi gặp, nghe, nhìn một điều gì |
| Gốc từ | Hán Việt 印象: ấn (con dấu, in vào) + tượng (hình ảnh) |
| Loại từ | Danh từ; nay dùng nhiều cả như tính từ |
| Sắc thái | Trung tính; tốt hay xấu tùy chữ đi kèm (ấn tượng đẹp, ấn tượng không hay) |

Ấn tượng: con dấu đóng vào trí nhớ
Chữ ấn (印) là cái con dấu. Thiều Chửu giảng thêm một nghĩa rất gợi: cái gì in vào vật khác mà còn để lại dấu thì gọi là ấn, nên mới có ấn loát (in ấn), tâm tâm tương ấn (hai lòng in vào nhau). Chữ tượng (象) vốn là con voi, rồi chuyển sang nghĩa hình trạng, hình ảnh, như trong hình tượng, cảnh tượng, khí tượng.
Ghép lại, ấn tượng là cái hình ảnh được “đóng dấu” vào đầu óc. Hình dung này giải thích vì sao người ta nói ấn tượng sâu, ấn tượng mờ dần, ấn tượng khó phai: giống hệt một vết mực, đóng mạnh thì đậm, lâu ngày thì nhạt. Tiếng Nhật và tiếng Trung cũng dùng đúng hai chữ 印象 cho khái niệm này.
Có một chuyện chữ khá thú vị ở phương Tây. Năm 1874, một nhóm họa sĩ trẻ ở Paris tổ chức triển lãm riêng, trong đó có bức tranh cảnh cảng biển lúc bình minh của Claude Monet tên là Ấn tượng, mặt trời mọc. Nhà phê bình Louis Leroy viết bài trên tờ Le Charivari, mượn chính nhan đề ấy để gọi cả nhóm là “những người ấn tượng” với giọng giễu cợt. Cái tên ban đầu dùng để chê lại ở lại thành tên chính thức của một trường phái hội họa: chủ nghĩa ấn tượng.
Lúc là danh từ, lúc là lời khen
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi ấn tượng trước hết là danh từ: cái biết bằng giác quan, có pha cảm xúc, còn đọng lại trong đầu sau khi tiếp xúc với sự vật, hiện tượng. Ở nghĩa này, ấn tượng luôn cần chữ khác đi kèm để biết tốt hay xấu.
- Chuyến đi Sa Pa để lại cho em ấn tượng về những thửa ruộng bậc thang mùa nước đổ.
- Anh ấy đến muộn trong buổi phỏng vấn, nên ấn tượng đầu tiên không được tốt.
Nghĩa thứ hai là tính từ: có sức gây cảm xúc mạnh, tạo được dấu ấn. Lúc này từ đã mang sẵn ý khen, không cần chữ “tốt” hay “đẹp” nữa.
- Pha lật bàn ở phút cuối của đội tuyển thật sự ấn tượng.
- Bìa cuốn sách này đơn giản mà ấn tượng.
Cách dùng tính từ phổ biến tới mức nhiều người chỉ nghĩ đến nó. Thực ra “rất ấn tượng” là nghĩa mới phát triển sau. Trong văn nghị luận, dùng danh từ thường chắc tay hơn: thay vì viết “hình ảnh này rất ấn tượng”, có thể viết “hình ảnh này để lại ấn tượng về một vùng quê yên ả”, vừa đủ ý vừa cụ thể.
Mỗi cách dùng của ấn tượng có nhóm từ thay thế riêng, từ cảm tưởng đến nổi bật, được tách thành bảng trong đồng nghĩa, trái nghĩa với ấn tượng.
Dấu ấn, cảm tưởng hay ấn tượng?
| Từ | Khác ấn tượng ở chỗ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Dấu ấn | Nặng về cái để lại lâu dài, thường lớn lao hơn một cảm giác | Thời Lý để lại dấu ấn trong kiến trúc chùa chiền |
| Cảm tưởng | Là suy nghĩ, nhận xét mình nói ra, viết ra sau khi trải qua | Phát biểu cảm tưởng sau buổi tham quan |
| Cảm nhận | Quá trình mình đón nhận, thấm dần; ấn tượng là cái còn lại | Cảm nhận về bài thơ Sang thu |
| Nổi bật, đáng nhớ | Gần nghĩa tính từ của ấn tượng, nhưng trung tính hơn | Chi tiết đáng nhớ nhất của truyện |
Về trái nghĩa, ở nghĩa tính từ có thể dùng mờ nhạt, nhạt nhòa, tẻ nhạt, bình thường. Danh từ ấn tượng thì không có từ trái nghĩa riêng; người ta nói “không để lại ấn tượng gì” hoặc “chẳng nhớ gì cả”. Muốn gọi tên những cảm xúc nằm dưới một ấn tượng (vui, xúc động, sợ hãi…), xem thêm phần giải nghĩa từ cảm xúc cho học sinh.
Ấn tượng ban đầu có đáng tin không?
Ai cũng từng được dặn “phải gây ấn tượng tốt ngay từ lần gặp đầu”. Ấn tượng ban đầu là hình dung đầu tiên ta có về một người khi mới gặp: dáng vẻ, cách chào, giọng nói. Nó hình thành rất nhanh và thường bám dai, vì sau đó ta có xu hướng để ý những gì khớp với hình dung cũ.
Đề nghị luận kiểu “Có nên đánh giá người khác qua ấn tượng ban đầu?” vì thế khá hay để triển khai. Vài hướng gợi ý:
- Thừa nhận giá trị: ăn mặc gọn gàng, đúng giờ, chào hỏi lễ phép là cách tôn trọng người đối diện, đáng rèn luyện.
- Chỉ ra giới hạn: một buổi gặp chỉ cho thấy một lát cắt; người nhút nhát dễ bị đánh giá thấp, người khéo nói có khi được đánh giá quá cao.
- Bài học: chuẩn bị chu đáo cho lần gặp đầu, nhưng khi nhìn người khác thì cho họ thêm thời gian.
Với học sinh, tình huống quen nhất là lời giới thiệu bản thân trong ngày đầu vào lớp mới. Một câu tự giới thiệu dí dỏm, đúng mực thường dễ được nhớ hơn một bản liệt kê sở thích; có thể tham khảo vài mẫu ở bài thơ và câu giới thiệu bản thân vui nhộn, nhưng đừng quên là người ta còn ngồi cạnh nhau cả năm học, lâu dài mới là thứ quyết định.
Một lỗi hay gặp trong bài làm văn: viết “em rất ấn tượng với nhân vật” rồi dừng ở đó. Câu ấy chỉ thật sự có nghĩa khi đi kèm chi tiết, ví dụ ấn tượng với cái cách ông Hai cứ ra rả khoe làng.
Gây ấn tượng, để lại ấn tượng và chữ impression
Ấn tượng nghĩa là gì khi nói “người này rất ấn tượng”?
Ở câu này, ấn tượng là tính từ, nghĩa là người đó nổi bật, có điều gì khiến mình nhớ: ngoại hình, cách nói chuyện hay tài năng. Câu không nói rõ nổi bật vì điều gì, nên khi viết văn nên thêm chi tiết cụ thể.
Gây ấn tượng là gì?
Gây ấn tượng là làm cho người khác chú ý và nhớ tới mình hoặc tới sản phẩm của mình. Cụm này thường mang ý tích cực, như gây ấn tượng với ban giám khảo, nhưng cũng có thể đi với ý xấu: gây ấn tượng xấu vì đi trễ.
Ấn tượng tiếng Anh là gì?
Danh từ ấn tượng là impression, như first impression (ấn tượng đầu tiên). Tính từ “rất ấn tượng” thường dịch là impressive; còn “tôi rất ấn tượng với…” có thể nói I was impressed by….
Ấn tượng là từ Hán Việt hay thuần Việt?
Là từ Hán Việt, viết bằng chữ Hán là 印象. Đây là từ ghép, hai chữ đều có nghĩa riêng: ấn là in, đóng dấu; tượng là hình ảnh.