Xã giao là sự giao tiếp thông thường giữa người với người trong xã hội, theo những phép lịch sự quen thuộc như chào hỏi, hỏi thăm, bắt tay, mời nước. Khi đi sau một từ khác, như “cười xã giao”, “lời mời xã giao”, nó lại nghiêng sang nghĩa lịch sự bề ngoài, chưa phải thân tình. Mối quan hệ xã giao vì thế là quen biết vừa đủ, chưa đến mức bạn bè.
| Nghĩa ngắn | Giao tiếp thông thường, đúng phép lịch sự trong xã hội |
| Gốc từ | Hán Việt 社交: xã (đoàn thể, xã hội) + giao (qua lại với nhau) |
| Loại từ | Danh từ, động từ, tính từ tùy câu |
| Sắc thái | Trung tính khi nói phép lịch sự; hơi lạnh khi nói “chỉ xã giao thôi” |

Xã giao: chữ 社 và chữ 交
Chữ xã (社) thoạt đầu là nơi thờ thần đất. Theo lời giảng của Thiều Chửu, đời xưa cứ một khu chừng hai mươi lăm nhà lập thành một xã để cùng lo việc chung; từ đó chữ này chỉ cả những nhóm người tụ lại với nhau: xã hội, hợp tác xã, thi xã (hội thơ), thông tấn xã.
Chữ giao (交) là đi lại, chơi với nhau. Họ hàng của nó rất đông: giao du, giao thiệp, giao tế, bang giao, ngoại giao, kết giao, tuyệt giao. Ghép hai chữ lại, xã giao là chuyện qua lại giữa người với người trong cộng đồng, cái phần quan hệ mà ai sống giữa làng xóm, phố phường cũng phải có.
Đặt cạnh nghĩa rộng của chữ giao tiếp sẽ thấy hai từ khác nhau ở phạm vi: giao tiếp là mọi sự trao đổi qua lại, còn xã giao chỉ phần giao tiếp theo phép tắc chung, thường giữa những người chưa thân.
Giữ phép xã giao và cười xã giao khác nhau đâu?
Mục từ xã giao trong từ điển Việt – Việt ghi ba cách dùng, mỗi cách mang một sắc thái riêng.
- Danh từ: việc giao tiếp thông thường giữa người với người theo phép lịch sự chung. Ví dụ: Gặp thầy cũ ở đám cưới, cậu giữ đúng phép xã giao, chào trước rồi mới ngồi.
- Động từ: giao tiếp với mọi người. Ví dụ: Chị ấy giỏi xã giao, vào phòng họp năm phút đã nhớ tên hết khách. Ngược lại có người “kém xã giao”, gặp người lạ là lúng túng.
- Tính từ: chỉ lịch sự cho phải phép, không xuất phát từ tình cảm thật. Ví dụ: Anh ta hỏi một câu xã giao về sức khỏe rồi chuyển ngay sang chuyện tiền.
Nghĩa thứ ba là nghĩa được dùng nhiều trong chuyện tình cảm, bạn bè. “Chỉ là bạn xã giao” ý nói biết nhau, chào nhau, nhưng không tâm sự. “Cười xã giao” là nụ cười lịch sự khi chưa có gì đáng cười, ai đi làm cũng từng cười kiểu ấy với sếp của phòng bên.
Xã giao, giao thiệp, khách sáo: gần mà không trùng
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Xã giao | Lịch sự theo phép chung, chưa thân | Vài câu xã giao trước giờ họp |
| Giao thiệp | Quan hệ qua lại, quen biết nhiều người | Ông ấy giao thiệp rộng |
| Giao tế | Từ cũ, trang trọng, chỉ việc đối đãi lấy lễ với nhau | Giữ lễ giao tế với khách nước ngoài |
| Khách sáo | Lịch sự quá mức đến xa cách | Người nhà với nhau mà cứ cảm ơn rối rít, khách sáo quá |
| Thân mật, thân tình | Gần gũi, cởi mở (trái nghĩa) | Cuộc trò chuyện thân tình bên ấm trà |
Ranh giới giữa xã giao và khách sáo nằm ở mức độ: với người lạ, lịch sự là đúng; với người thân mà vẫn giữ nguyên nghi thức ấy thì thành lịch sự quá đà đến mức khách sáo. Xã giao cũng khác thảo mai: xã giao không giả vờ quý mến, nó chỉ giữ chừng mực.
Bạn xã giao có phải là bạn giả?
Đề nghị luận về các mối quan hệ hay gặp câu hỏi này. Có thể triển khai theo vài ý:
- Xã giao không đồng nghĩa với giả tạo. Không ai đủ sức thân thiết với tất cả mọi người. Chào hỏi tử tế với hàng xóm, đồng nghiệp là cách tôn trọng nhau khi chưa có dịp hiểu nhau.
- Nhiều tình bạn bắt đầu từ một câu xã giao. Lời hỏi “bạn học lớp nào?” trong ngày khai giảng có khi mở ra quan hệ mười năm.
- Xã giao chỉ đáng trách khi thành lừa dối: khen bừa để lấy lòng, hứa giúp mà không định giúp, hay giả thân để nhờ vả.
Muốn câu chuyện xã giao bớt gượng, kinh nghiệm chung là nhớ tên người đối diện và hỏi một điều cụ thể thay vì câu chung chung, phần này nằm trong việc rèn cách nói chuyện với người mới quen. Riêng câu “hôm nào cà phê nhé” thì người Việt đều ngầm hiểu: phần lớn là xã giao, đừng giận nếu “hôm nào” ấy mãi chưa tới.
Xã giao trong lời mời, nụ cười và tin nhắn
Mối quan hệ xã giao là gì?
Là quan hệ quen biết ở mức lịch sự: gặp thì chào, có dịp thì hỏi thăm, nhưng không chia sẻ chuyện riêng. Đồng nghiệp khác phòng, phụ huynh cùng lớp, người quen trong nhóm chạy bộ thường thuộc kiểu quan hệ này.
Cười xã giao là cười thế nào?
Là nụ cười lịch sự để giữ không khí, không phải vì thấy vui thật. Nó thường ngắn, môi cười nhưng mắt ít thay đổi, và xuất hiện nhiều trong buổi gặp đầu tiên hay khi nghe một câu đùa không mấy buồn cười.
Xã giao tiếng Anh là gì?
Động từ “đi xã giao, giao lưu” là socialize; tính từ là social. Những câu chào hỏi xã giao gọi là small talk hoặc pleasantries; “nụ cười xã giao” có thể dịch là a polite smile.
Người kém xã giao có phải là người hướng nội?
Không hẳn. Kém xã giao là chưa quen các phép chào hỏi, đối đáp với người lạ; điều này rèn được. Người hướng nội vẫn có thể xã giao rất khéo, chỉ là sau đó họ cần thời gian ở một mình để lấy lại sức.