Vũ là một âm Hán Việt dùng chung cho nhiều chữ Hán khác hẳn nhau: 雨 là mưa, 宇 là mái nhà và khoảng không, 武 là võ, 舞 là múa, 羽 là lông chim. Vì vậy hỏi “vũ nghĩa là gì” thì phải nhìn từ ghép đi kèm: vũ trụ, vũ khí, vũ điệu hay lông vũ mỗi chữ một gốc. Tiếng Việt cũng dùng vũ đứng một mình với nghĩa múa, như trong “ca, vũ, nhạc”.
| Nghĩa thường gặp | Múa (舞), võ (武), mưa (雨), không gian (宇), lông chim (羽) |
| Gốc từ | Yếu tố Hán Việt; một âm đọc ứng với hàng chục chữ Hán |
| Loại từ | Đứng riêng là danh từ hoặc động từ (múa); phần lớn chỉ xuất hiện trong từ ghép |
| Cách nhận ra | Dựa vào từ ghép: vũ trụ, vũ khí, vũ điệu, lông vũ, phong vũ biểu |

Một âm vũ, năm chữ Hán thường gặp
Tra một cuốn từ điển Hán Việt sẽ thấy cả chục chữ cùng đọc là vũ. Phần lớn rất hiếm gặp; trong tiếng Việt hằng ngày chỉ cần nhớ năm chữ dưới đây.
- 雨 (mưa). Gặp trong phong vũ (gió mưa), phong vũ biểu (khí áp kế, cái máy báo trước mưa nắng). Chữ này còn là một bộ thủ: nhiều chữ chỉ hiện tượng trời như sương, tuyết, sấm đều có bộ vũ đội trên đầu.
- 宇 (mái hiên, nhà; rộng ra là không gian bốn phương). Gặp trong vũ trụ, hoàn vũ. Người xưa ghép vũ (khoảng không trên dưới bốn phía) với trụ (thời gian xưa qua nay lại) để gọi toàn bộ những gì tồn tại.
- 武 (võ, sức mạnh quân sự). Gặp trong vũ khí, vũ lực, vũ trang, vũ phu. Chữ này có hai cách đọc là vũ và võ.
- 舞 (múa). Gặp trong vũ điệu, vũ công, vũ hội, khiêu vũ, ca vũ.
- 羽 (lông chim, cánh chim). Gặp trong lông vũ; trong nhạc cổ, vũ còn là tên âm cuối của ngũ âm cung, thương, giốc, chủy, vũ.
Đứng một mình, chữ vũ trong tiếng Việt gần như chỉ còn nghĩa múa: đêm văn nghệ có ca, có vũ, một điệu vũ dân gian. Các nghĩa còn lại phải nằm trong từ ghép mới sống được.
Vũ hay võ: chuyện một chữ hai cách đọc
Chữ 武 đọc là vũ ở miền Bắc nhưng từ Quảng Bình trở vào thường đọc là võ. Nhiều tài liệu giải thích sự khác biệt này bằng lệ kiêng húy thời các chúa Nguyễn; hệ quả dễ thấy nhất là cùng một dòng họ, ngoài Bắc ghi họ Vũ, trong Nam ghi họ Võ. Đến bây giờ hai cách đọc vẫn tồn tại song song: vũ khí và võ khí, vũ trang và võ trang đều có người dùng, dù trên sách báo cách đọc vũ phổ biến hơn trong các từ này.
Ngược lại, có những từ chỉ đi với một cách đọc: nói võ sĩ, võ đường, võ thuật chứ không ai nói “vũ thuật”. Còn vũ phu lại hầu như chỉ đọc là vũ, và nghĩa của nó đã trôi xa khỏi chữ võ ban đầu; chuyện đó có ở bài giải nghĩa chữ vũ phu trong lời chê đàn ông.
Chữ múa 舞 thì chưa bao giờ đọc là võ. Cho nên “võ điệu” hay “võ hội” là viết sai, còn vũ điệu, vũ hội mới đúng.
Cách phân biệt các chữ vũ trong một từ ghép
Gặp một từ có chữ vũ mà chưa biết nghĩa, thử thay chữ ấy bằng năm nghĩa gốc rồi xem nghĩa nào khớp với cả từ.
| Từ ghép | Chữ vũ | Nghĩa cả từ |
|---|---|---|
| Vũ trụ | 宇: không gian | Toàn bộ không gian và thời gian |
| Vũ khí | 武: võ | Dụng cụ dùng để đánh nhau, chiến đấu |
| Vũ điệu, vũ công | 舞: múa | Điệu múa; người múa chuyên nghiệp |
| Lông vũ | 羽: lông chim | Lông của loài chim |
| Phong vũ biểu | 雨: mưa | Dụng cụ đo áp suất khí quyển |
| Cổ vũ | 舞: múa | Nghĩa đen là đánh trống, nhảy múa; nghĩa dùng là động viên, khích lệ |
Từ cổ vũ là ví dụ đẹp: cảnh người ta khua trống, nhảy múa để giục người ra trận đã thành nghĩa khích lệ. Họ hàng gần của nó là chữ cổ xúy, người anh em của cổ vũ, chỉ khác là cổ xúy thường mang ý chê.
Ngoài năm chữ chính, vài chữ vũ hiếm hơn vẫn để lại dấu vết: 禹 là tên vua Vũ nhà Hạ, có mặt trong cụm vũ môn của tích cá chép hóa rồng; 侮 là khinh nhờn, trong vũ nhục; 鵡 ghép thành anh vũ, tức con vẹt.
Về chính tả, vũ (dấu ngã) hay bị gõ nhầm với vụ (dấu nặng) và vú (dấu sắc). Ba chữ khác nghĩa hoàn toàn: vụ là mùa, vụ việc (vụ mùa, vụ án); viết “vụ trụ” hay “vụ khí” là lỗi dấu chứ không phải biến thể.
Có những từ phải biết chữ Hán mới khỏi lẫn, như vũ khúc 舞曲 chỉ bản nhạc để múa, khác hẳn tên sao Vũ Khúc viết bằng chữ võ.
Vũ trong tên người
Vũ là tên gọi phổ biến cho con trai, đôi khi đặt cho cả con gái. Khi đặt tên, cha mẹ thường gửi vào một trong hai nghĩa: vũ là võ, mong con mạnh mẽ, có khí phách; hoặc vũ trong vũ trụ, mong con rộng lòng và có chí lớn. Ít người chọn nghĩa mưa hay nghĩa múa, dù cả hai đều không có gì xấu. Tên Vũ hay đi với các chữ đệm như Hoàng Vũ, Minh Vũ, Tuấn Vũ, Thiên Vũ; chữ đệm thường cho biết người đặt tên nghĩ tới chữ Hán nào.
Còn họ Vũ thì gắn với chữ 武, nên người họ Vũ ở Bắc và người họ Võ ở Nam, xét theo chữ Hán, là cùng một chữ.
Năm nghĩa của chữ vũ trong đời thường
Vũ là mưa hay múa?
Cả hai, tùy chữ Hán. Vũ là mưa khi ứng với chữ 雨, là múa khi ứng với chữ 舞. Trong tiếng Việt hằng ngày, nghĩa múa quen hơn hẳn vì có trong vũ điệu, khiêu vũ, vũ công.
Vũ trong vũ trụ nghĩa là gì?
Là chữ 宇, nghĩa gốc là mái hiên, ngôi nhà, rồi mở rộng thành không gian bốn phương trên dưới. Ghép với trụ (thời gian) thành vũ trụ, chỉ tất cả những gì tồn tại.
Tên Vũ có ý nghĩa gì?
Tên Vũ thường được hiểu theo chữ 武 (mạnh mẽ, có khí phách) hoặc chữ 宇 (rộng lớn như bầu trời). Muốn biết chính xác, nên hỏi người đặt tên định viết chữ nào.
Vì sao có người họ Vũ, có người họ Võ?
Hai họ cùng gốc chữ 武. Ở miền Bắc đọc là Vũ, từ Quảng Bình trở vào phần lớn đọc là Võ, thường được giải thích là do lệ kiêng húy thời chúa Nguyễn.
Viết vũ khí hay võ khí mới đúng?
Hai cách viết cùng gốc chữ 武 nên không sai về nghĩa. Có điều sách báo và văn bản hành chính hiện dùng vũ khí là chính; võ khí nghe cũ và mang màu giọng miền Nam.