Hãy cùng Vanvn đọc lại những bài thơ về con vật quen thuộc nhất của tuổi thơ: chú mèo rửa mặt, đàn gà lích chích, con trâu theo cha ra đồng hay chú ong chăm chỉ làm mật. Những câu thơ ngắn, vần dễ nhớ giúp bé làm quen với ngôn ngữ, học cách quan sát thế giới xung quanh và biết yêu thương loài vật. Bài viết tổng hợp 50 bài đồng dao, ca dao, thơ ngắn và hơn 15 bài thơ thiếu nhi nổi tiếng về con vật, chia theo từng nhóm để cha mẹ, thầy cô chọn đọc cùng bé.
Phần đồng dao, ca dao là văn học dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ, có thể gặp vài dị bản khác nhau giữa các vùng. Các bài thơ ngắn theo từng con vật do tổ biên tập Văn VN biên soạn, viết theo thể bốn chữ và năm chữ để bé dễ đọc, dễ thuộc.
Đồng dao, ca dao về con vật quen thuộc
Đồng dao và ca dao về con vật là lớp thơ đầu tiên của trẻ em Việt Nam, gắn với lời ru của bà, của mẹ và những trò chơi ngoài sân. Nhịp điệu vui tai, hình ảnh ngộ nghĩnh giúp bé thuộc lòng rất nhanh, còn người lớn đọc lại thấy cả một bức tranh làng quê xưa.

1/ Con mèo mà trèo cây cau
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
Chú chuột đi chợ đồng xa
Mua mắm, mua muối giỗ cha con mèo.
Bài ca dao dùng lối nói ngược đầy hóm hỉnh: chuột đi mua đồ cúng giỗ cho cha mèo, kẻ thù truyền kiếp của mình. Tiếng cười bật ra từ sự mỉa mai khéo léo, bé đọc thấy vui, người lớn đọc lại thấy cái lém lỉnh của người xưa.
2/ Cái bống là cái bống bang
Cái bống là cái bống bang
Khéo sảy, khéo sàng cho mẹ nấu cơm
Mẹ bống đi chợ đường trơn
Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng.
Chú cá bống nhỏ được nhân hóa thành đứa con ngoan, biết giúp mẹ sàng gạo, biết ra đón mẹ lúc trời mưa. Bài đồng dao thường được dùng để dạy bé về lòng hiếu thảo và thói quen giúp đỡ việc nhà.
3/ Con gà cục tác lá chanh
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
Mỗi con vật “xin” một thứ gia vị mà người ta hay dùng để chế biến chính nó: gà xin lá chanh, lợn xin hành, chó xin riềng. Bài ca dao vừa vui vừa giúp bé nhớ tên các loại rau gia vị quen thuộc trong bếp nhà.
4/ Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cái cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Người nông dân trò chuyện với con trâu như với người bạn cùng làm lụng. Bài ca dao thể hiện tình cảm gắn bó giữa con người và con trâu, người bạn thân thiết nhất của nhà nông Việt Nam.
5/ Con cò mà đi ăn đêm
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Hình ảnh con cò lặn lội kiếm ăn trong đêm là biểu tượng quen thuộc của người mẹ, người nông dân vất vả. Lời cò van xin ở cuối bài khiến người đọc thương cảm cho thân phận nhỏ bé, lam lũ.
6/ Cái cò, cái vạc, cái nông
Cái cò, cái vạc, cái nông
Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?
Không không, tôi đứng trên bờ
Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin ông đến mà coi
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.
Bài ca dao như một màn đối đáp ngộ nghĩnh giữa người chủ ruộng và chú cò bị oan. Cò, vạc, nông, diệc là những loài chim nước quen thuộc ở đồng ruộng Bắc Bộ.
7/ Con kiến mà leo cành đa
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cộc leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cộc leo vào leo ra.
Lối lặp từ “leo ra leo vào”, “leo vào leo ra” tạo nhịp điệu vui tai, giống như đang nhìn chú kiến loay hoay trên cành cây. Bé đọc vài lần là thuộc.
8/ Bồ các là bác chim ri
Bồ các là bác chim ri
Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các.
Bài đồng dao xếp các loài chim thành một “gia đình” vòng tròn, câu cuối lại quay về câu đầu. Trò chơi chữ này giúp bé nhớ tên nhiều loài chim và các từ chỉ quan hệ họ hàng.
9/ Con công hay múa
Con công hay múa
Múa điệu làm sao?
Nó rụt cổ vào
Nó xòe cánh ra
Nó đỗ cành đa
Nó kêu ríu rít
Nó đỗ cành mít
Nó kêu vịt chè
Nó đỗ cành tre
Nó kêu bè muống
Nó đi xuống ruộng
Nó kêu tầm vông.
Đây là bài đồng dao có nhiều dị bản, thường vừa đọc vừa làm động tác rụt cổ, xòe tay theo lời. Trẻ mầm non rất thích bài này vì được “múa” giống con công.
10/ Con vỏi con voi
Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Còn cái đuôi đi sau rốt
Tôi xin kể nốt
Cái chuyện con voi.
Bài đồng dao tả con voi theo thứ tự từ vòi đến đuôi, vừa ngộ nghĩnh vừa giúp bé học trước – sau. Bài có trên Văn VN kèm phần giải nghĩa tại Thơ con voi.
11/ Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.
Câu ca dao là kinh nghiệm xem thời tiết của ông cha: trước cơn mưa, không khí ẩm khiến côn trùng bay thấp, chuồn chuồn bay theo để bắt mồi. Bé có thể tự kiểm chứng khi ra vườn.
12/ Con cóc là cậu ông trời
Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.
Câu ca dao gắn với truyện cổ tích Cóc kiện trời, dạy trẻ không bắt nạt loài vật nhỏ bé. Bạn có thể đọc thêm truyện cổ tích cùng tên để bé hiểu vì sao cóc được gọi là “cậu ông trời”.
Thơ về vật nuôi trong nhà
Vật nuôi trong nhà là những người bạn đầu tiên của bé: chú mèo nằm sưởi nắng, chú cún vẫy đuôi đón chủ, đàn gà trong sân. Những bài thơ ngắn dưới đây viết theo thể bốn chữ, năm chữ, phù hợp để đọc cho bé từ hai đến sáu tuổi.

13/ Mèo con
Mèo con lông trắng muốt
Ngủ dậy vươn mình dài
Rửa mặt bằng chân nhỏ
Chẳng cần khăn của ai.
Đêm về mèo đi tuần
Mắt sáng như hai đèn
Chú chuột nghe “meo meo”
Nấp im chẳng dám chen.
14/ Cún con
Cún con lông vàng óng
Vẫy đuôi đón em về
Quấn quýt quanh chân nhỏ
Nhảy tót lên thềm hè.
Đêm khuya cún thức canh
Nghe động là “gâu gâu”
Nhà mình ngủ yên giấc
Có cún giữ trước sau.
15/ Gà trống gọi nắng
Gà trống mào đỏ chót
Đuôi cong như cầu vồng
Sáng nào cũng dậy sớm
Gáy vang khắp cánh đồng.
“Ò ó o!” gọi nắng
Mặt trời hồng lên cao
Bé ơi mau thức dậy
Đến trường cùng bạn nào.
16/ Gà mẹ và đàn con
Gà mẹ cục cục
Gọi đàn con thơ
Lích chích lích chích
Chạy theo bên bờ.
Mẹ bới giun đất
Con nhặt thóc vàng
Diều hâu chợt tới
Cả đàn hoang mang.
Nép vào cánh mẹ
Ấm áp biết bao
Diều hâu bay mất
Lại chạy lao xao.
17/ Vịt bầu
Vịt bầu lạch bạch
Xuống ao tắm mình
Lông không hề ướt
Nước trôi lung linh.
Cạc cạc gọi bạn
Bơi hàng dọc ngang
Chân chèo thoăn thoắt
Rẽ nước mênh mang.
18/ Chú lợn và heo đất
Ủn à ủn ỉn
Chú lợn tròn xoe
Ăn no lại ngủ
Nằm dài dưới tre.
Heo đất béo tròn
Bé nuôi mỗi ngày
Bỏ vào đồng lẻ
Tết đến đầy tay.
19/ Trâu ơi
Trâu ơi trâu hiền lành
Sừng cong như vầng trăng
Sớm theo cha ra ruộng
Cày những luống thẳng băng.
Chiều về trên lưng trâu
Sáo diều ai thả chơi
Cỏ non xanh bờ đê
Trâu nhai hoài chưa thôi.
20/ Thỏ trắng
Thỏ trắng đôi tai dài
Mắt hồng như viên bi
Tung tăng trong vườn rau
Cà rốt nhai rồi đi.
Nghe động là vểnh tai
Thoắt cái đã chạy xa
Nhớ chuyện thi với rùa
Thỏ chăm chỉ hơn ra.
21/ Chú ngựa hồng
Chú ngựa hồng khỏe mạnh
Bờm dài bay trong gió
Lộc cộc qua đường làng
Đưa bé về thăm ngõ.
22/ Bò vàng
Bò vàng gặm cỏ
Bên bờ sông xanh
Ụm bò, ụm bò
Sữa thơm ngọt lành.
23/ Dê con
Dê con be be
Râu dài như cụ
Leo dốc thoăn thoắt
Gặm lá no đủ.
24/ Chuột nhắt
Chuột nhắt tí hon
Rúc rích trong nhà
Nghe tiếng meo meo
Vội vàng chạy xa.
Thơ về các loài chim
Chim chóc gắn với buổi sớm, với mùa xuân và cánh đồng quê. Những bài thơ về chim giúp bé tập quan sát màu lông, tiếng hót và thói quen của từng loài.

25/ Chim sẻ
Chim sẻ nâu nhỏ xinh
Nhảy nhót trên mái tranh
Ríu rít chào buổi sớm
Gọi nắng về long lanh.
26/ Con cò
Con cò trắng muốt
Lặn lội bờ sông
Chân dài đứng đợi
Bắt cá giữa đồng.
Cò bay lả lướt
Trên ruộng lúa xanh
Như lời mẹ ru
Dịu dàng, hiền lành.
27/ Chim én
Chim én mang xuân về
Chao nghiêng trên bờ đê
Cánh nhỏ như cây kéo
Cắt mây trời bốn bề.
28/ Họa mi hót
Họa mi hót trong vườn
Giọng trong như suối reo
Cả rừng im lắng nghe
Nắng vàng lên trong veo.
29/ Bồ câu trắng
Bồ câu cánh trắng
Gù gù sân nhà
Tung cánh bay cao
Mang tin đi xa.
30/ Vẹt xanh
Vẹt xanh mỏ đỏ
Học nói líu lo
“Chào bé! Chào bé!”
Cả nhà cười to.
Thơ về côn trùng
Ong, bướm, kiến, ve là những “người bạn tí hon” trong vườn nhà. Thơ về côn trùng thường gửi gắm bài học về sự chăm chỉ, đoàn kết, rất hợp để dạy bé thói quen tốt.
31/ Ong vàng
Ong vàng chăm chỉ
Bay khắp vườn hoa
Chắt từng giọt ngọt
Làm mật cho ta.
Vo ve vo ve
Chẳng nghỉ chẳng ngơi
Bé học chăm chỉ
Giống ong, bé ơi.
32/ Bướm vàng
Bướm vàng lượn vườn xuân
Cánh mỏng như tờ giấy
Đậu nhẹ trên nhành hoa
Hoa cười tươi lộng lẫy.
33/ Đàn kiến
Kiến đen bé tí
Đi thành hàng dài
Tha mồi về tổ
Chẳng chịu thua ai.
Gặp nhau chạm râu
Hỏi han thân tình
Đoàn kết với nhau
Việc khó cũng thành.
34/ Ve sầu gọi hè
Ve kêu râm ran
Hè về trên cây
Phượng đỏ rực trời
Học trò chia tay.
35/ Dế mèn
Dế mèn áo nâu
Đôi càng mẫm bóng
Đêm về ri ri
Hát vang cánh đồng.
36/ Chuồn chuồn
Chuồn chuồn cánh mỏng
Đậu ngọn cỏ may
Bé rón rén bắt
Chuồn chuồn vụt bay.
37/ Ốc sên
Ốc sên chậm rãi
Cõng nhà đi chơi
Mưa xong mới dậy
Bò trên lá tươi.
Thơ về con vật dưới nước
Ao hồ, sông suối là thế giới của cá, ếch, rùa, cua. Những bài thơ dưới đây dễ đọc kèm động tác, rất hợp cho giờ học mầm non hoặc lúc bé chơi với bể cá ở nhà.
38/ Cá vàng
Cá vàng bơi trong bể
Đuôi xòe như cánh hoa
Mắt tròn xoe ngó bé
Hỏi: bạn đi đâu xa?
Bé cho cá ăn đều
Thay nước trong mỗi tuần
Cá vàng bơi vui vẻ
Quẫy đuôi cảm ơn luôn.
39/ Ếch con
Ếch con áo xanh
Ngồi trên lá sen
Học bài ộp ộp
Chăm chỉ ngoan hiền.
Mưa rơi lộp độp
Ếch vui hát ca
Cả ao rộn rã
Như buổi tiệc nhà.
40/ Rùa con
Rùa con chậm chạp
Mang nhà trên lưng
Chậm mà chắc chắn
Về đích tưng bừng.
41/ Con cua
Cua càng đỏ chót
Bò ngang bờ ao
Hỏi đi đâu thế?
Cua giơ càng chào.
42/ Tôm con
Tôm con râu dài
Lưng cong búng nước
Bơi lùi thoăn thoắt
Chẳng đi về trước.
43/ Cá heo
Cá heo thông minh
Nhảy vòng trên sóng
Kết bạn với người
Biển xanh lồng lộng.
Thơ về muông thú trong rừng
Voi, khỉ, hổ, sóc là những con vật bé thường gặp trong sách tranh và vườn thú. Thơ về muông thú giúp bé mở rộng vốn từ và tò mò tìm hiểu thiên nhiên hoang dã.
44/ Voi con
Con voi to lừng lững
Vòi dài như cánh tay
Tai phe phẩy như quạt
Chở gỗ suốt cả ngày.
45/ Khỉ con
Khỉ con tinh nghịch
Đu cành leo cây
Hái chùm chuối chín
Chia bạn cả bầy.
46/ Chúa sơn lâm
Hổ oai phong lẫm liệt
Khoác áo vằn sọc vàng
Mỗi lần hổ gầm lên
Muông thú nép hai hàng.
47/ Sóc nâu
Sóc nâu đuôi bông
Chuyền cành nhanh thoăn
Nhặt hạt dẻ chín
Để dành mùa đông.
48/ Gấu nâu
Gấu nâu mũm mĩm
Thích ăn mật ong
Mùa đông ngủ kỹ
Trong hang ấm nồng.
49/ Hươu cao cổ
Hươu cao cổ dài
Ăn lá ngọn cây
Ngẩng đầu một chút
Chạm tới mây bay.
50/ Sư tử
Sư tử bờm vàng
Oai phong lẫm liệt
Mỗi khi gầm vang
Cả rừng đều biết.
Những bài thơ thiếu nhi nổi tiếng về con vật
Ngoài đồng dao và thơ ngắn ở trên, nhiều nhà thơ viết cho thiếu nhi đã để lại những bài thơ về con vật được in trong sách giáo khoa và dạy ở trường mầm non. Văn VN có bài riêng cho từng tác phẩm, kèm hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa:
- Đàn gà con (Phạm Hổ): đàn gà mới nở như “hòn tơ nhỏ”, bài thơ quen thuộc của lứa tuổi mầm non.
- Rong và cá (Phạm Hổ): tình bạn giữa cô rong xanh và đàn cá nhỏ dưới nước.
- Thơ con gà (Xuân Quỳnh): những chú gà đáng yêu dưới ngòi bút nữ thi sĩ.
- Gà trống (Bùi Đức Khiêm): chú gà trống gáy gọi ông mặt trời thức dậy.
- Mèo con đi học (Phan Thị Vàng Anh): bài thơ tác giả viết năm lên bảy tuổi, về chú mèo lười đi học.
- Mèo con và hoa nắng (Nguyễn Trọng Hoàn): chú mèo đuổi theo những đốm nắng trong sân.
- Con chó nhỏ (Tụ Vinh): tình cảm của bé với chú chó nhỏ trong nhà.
- Chú ếch con (Hồng Trang): chú ếch áo xanh ngộ nghĩnh bên bờ ao.
- Ong và mật (Chế Lan Viên): bài học về lao động từ chú ong làm mật.
- Con chim chiền chiện (Huy Cận): tiếng hót của chim chiền chiện giữa cánh đồng quê.
- Anh đom đóm (Võ Quảng): anh đom đóm cần mẫn “lên đèn đi gác” suốt đêm.
- Đom đóm: những đốm sáng lung linh trong đêm hè.
- Kiến và châu chấu (Thái Bá Tân): ngụ ngôn về sự chăm chỉ và lười biếng, kể lại bằng thơ.
- Gấu qua cầu: câu chuyện hai chú dê, chú gấu nhường nhau qua cầu hẹp.
- Gà con học chữ: chú gà con ham học cho các bé mầm non.
- Con cò (Chế Lan Viên): hình ảnh con cò trong lời ru của mẹ, bài thơ học ở lớp 9.
Mỗi bài trên có đầy đủ văn bản thơ, giải nghĩa và gợi ý cách đọc, phù hợp để cha mẹ đọc cùng bé hoặc thầy cô dùng trong giờ học.
Cách đọc thơ về con vật cùng bé
Thơ về con vật phát huy tác dụng tốt nhất khi được đọc chậm, có nhịp điệu và kèm động tác. Vài gợi ý dưới đây giúp giờ đọc thơ ở nhà trở nên vui và hiệu quả hơn:
- Bắt chước tiếng kêu: đọc đến “meo meo”, “ò ó o”, “cạc cạc” thì để bé kêu theo, bé sẽ nhớ bài nhanh gấp đôi.
- Làm động tác minh họa: rụt cổ, xòe cánh như con công, đi lạch bạch như vịt, vẫy tay như vòi voi.
- Chỉ tranh hoặc con vật thật: đọc thơ về con gà khi đi qua chuồng gà, đọc thơ cá vàng khi cho cá ăn.
- Đọc mỗi ngày một bài: chọn bài bốn chữ cho bé dưới ba tuổi, bài năm chữ và đồng dao dài hơn cho bé lớn.
Từ những bài thơ về con vật, bé không chỉ thuộc thêm nhiều từ mới mà còn học được sự chăm chỉ của ong, sự đoàn kết của kiến và tình yêu với những người bạn bốn chân. Nếu bé thích thơ, bạn có thể xem thêm các bài trong chủ đề thơ thiếu nhi và thơ về con vật trên Văn VN.
Tìm hiểu kỹ bài số 9: Đồng dao Con công hay múa (lời, giải nghĩa, cách múa cùng bé).
Tìm hiểu kỹ bài số 10: Đồng dao Con vỏi con voi (lời, giải nghĩa, dị bản).