Vạn lý trường thành là tên Hán Việt của hệ thống tường thành phòng thủ trải dài qua miền bắc Trung Quốc, tiếng Anh gọi là Great Wall of China. Bốn chữ 萬里長城 nghĩa đen là “bức thành dài vạn dặm”. Đây không phải một bức tường liền mạch mà là nhiều đoạn thành, xây và sửa qua nhiều triều đại suốt hơn hai nghìn năm; người Việt cũng gọi tắt là Trường Thành.
| Nghĩa | Bức thành dài vạn dặm; tên riêng của Trường Thành ở Trung Quốc |
| Gốc từ | Hán Việt 萬里長城: vạn (mười nghìn), lý (dặm), trường (dài), thành (tường thành) |
| Loại từ | Danh từ riêng (viết hoa: Vạn Lý Trường Thành) |
| Tên khác | Trường Thành; tiếng Anh: Great Wall of China |
| Di sản | Được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1987 |

Vạn lý trường thành: bức thành dài vạn dặm
Tách bốn chữ ra, cái tên tự giải nghĩa. Vạn (萬) là mười nghìn, cũng là cách nói “rất nhiều”, như trong vạn sự, vạn vật. Lý (里) là đơn vị đo đường xưa của người Trung Hoa, tiếng Việt quen dịch là “dặm”; độ dài của một lý thay đổi theo thời, chừng vài trăm mét. Trường (長) là dài, thành (城) là bức tường lũy bao quanh hay chắn ngang để giữ đất.
Ghép lại, Vạn lý trường thành là “bức thành dài vạn dặm”. Con số vạn dặm ở đây không phải số đo chính xác mà mang nghĩa “dài không thấy điểm cuối”. Theo các nghiên cứu về tên gọi, chữ “trường thành” đã có trong sử sách từ rất sớm để chỉ những bức tường thời Chiến Quốc và thời Tần, còn cái tên đầy đủ bốn chữ chỉ phổ biến về sau.
Khi là tên riêng, nên viết hoa đầu mỗi chữ: Vạn Lý Trường Thành. Trong lời nói, người ta hay rút gọn còn Trường Thành, như “đi Trường Thành”, “leo Trường Thành”.
Trường thành khác trưởng thành ở đâu?
Chỗ thú vị là chữ 長 có hai âm đọc. Đọc là trường thì nghĩa là dài (trường thành, trường giang, sở trường); đọc là trưởng thì nghĩa là lớn lên, đứng đầu (trưởng thành, trưởng lão, lớp trưởng). Vì thế hai từ nghe gần như nhau mà nghĩa xa hẳn:
| Từ | Chữ Hán | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Trường thành | 長城 | Bức thành dài | Leo lên một đoạn Trường Thành gần Bắc Kinh |
| Trưởng thành | 長成 | Lớn lên, chín chắn về tâm lí, nhận thức | Sau năm đầu xa nhà, cậu ấy trưởng thành hẳn |
| Thành trì | 城池 | Thành và hào nước quanh thành; nghĩa bóng là chỗ dựa vững | Thành trì cuối cùng của đội bóng |
| Thành lũy | 城壘 | Thành và lũy đất, công trình phòng thủ nói chung | Dấu vết thành lũy cổ |
Gõ phím vội, “vạn lý trưởng thành” là lỗi khá hay gặp. Muốn hiểu kĩ từ kia, xem bài trưởng thành theo nghĩa lớn khôn, chín chắn. Về chuyện viết lý hay lí, cả hai cách đều được chấp nhận, giống trường hợp viết kì vĩ hay kỳ vĩ; miễn là trong một bài viết thống nhất một cách.
Bức thành của nhiều triều đại
Những đoạn tường đầu tiên được các nước nhỏ thời Xuân Thu – Chiến Quốc dựng lên để giữ biên giới. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc vào thế kỉ III trước Công nguyên, các đoạn rời rạc ở phía bắc được nối lại và xây thêm thành một tuyến phòng thủ, chủ yếu để ngăn các tộc du mục phương Bắc.
Các triều sau tiếp tục sửa, nối, mở rộng. Phần lớn đoạn tường gạch đá mà du khách thấy trong ảnh, với tháp canh nối tiếp trên sống núi, là công trình thời nhà Minh (1368–1644). Ngoài việc chống giặc, Trường Thành còn dùng để kiểm soát qua lại, thu thuế hàng hóa và truyền tin bằng khói lửa giữa các tháp canh.
Năm 2012, cơ quan quản lí di sản của Trung Quốc công bố kết quả khảo sát: tính cả các đoạn tường, hào và công sự còn dấu vết, tổng chiều dài khoảng 21.196 km. Con số này lớn hơn nhiều so với hình dung “một bức tường”, vì nó gộp các tuyến xây ở nhiều thời kì, có chỗ chạy song song nhau. Năm 1987, Trường Thành được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Thế giới; khái niệm này được giải thích trong bài di sản văn hóa vật thể gồm những gì.
Nàng Mạnh Khương khóc đổ Trường Thành
Bức thành dài cũng đi vào văn học dân gian Trung Hoa qua truyền thuyết nàng Mạnh Khương. Các bản kể đời sau thường đặt câu chuyện vào thời Tần: chồng nàng mới cưới đã bị bắt đi phu xây thành. Nàng lặn lội mang áo rét tới nơi thì chồng đã mất. Nàng khóc thảm thiết đến mức một đoạn thành sụp xuống, để lộ hài cốt người chồng.
Truyện có nhiều dị bản, và đoạn thành trong bản gốc được cho là thành của nước Tề, không phải đoạn Trường Thành nhà Tần. Dù vậy, câu chuyện vẫn được nhắc như một lời than về phu dịch nặng nề phía sau công trình đồ sộ. Hai mặt ấy, một bên là kì công, một bên là nước mắt người xây, thường được đặt cạnh nhau khi bàn về Trường Thành.
Ở lớp 4, sách Tiếng Việt có bài hỏi học sinh đã biết những công trình nào nổi danh thế giới, và nhiều em kể Vạn Lý Trường Thành; xem gợi ý ở bài Một biểu tượng của Ô-xtrây-li-a lớp 4. Khi giới thiệu, chỉ cần nhớ một câu: đó là “bức thành dài vạn dặm” của nhiều triều đại, không phải công trình của riêng một ông vua.
Vạn Lý Trường Thành qua vài con số và một lời đồn
Vạn Lý Trường Thành dài bao nhiêu km?
Theo khảo sát công bố năm 2012, tổng chiều dài các đoạn tường, hào và công sự thuộc hệ thống Trường Thành khoảng 21.196 km. Riêng phần do nhà Minh xây được đo trước đó khoảng hơn 8.800 km.
Ai xây Vạn Lý Trường Thành?
Không phải một người. Các nước thời Xuân Thu – Chiến Quốc xây những đoạn đầu, Tần Thủy Hoàng cho nối lại, và nhiều triều đại về sau, nổi bật là nhà Minh, tiếp tục xây sửa. Người làm trực tiếp là binh lính, phu dịch và người bị đày.
Có nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành từ Mặt Trăng không?
Không. Đây là lời đồn rất phổ biến. Bức tường dài nhưng hẹp, màu gần với đất đá xung quanh, nên từ Mặt Trăng mắt thường không thể thấy; ngay cả từ quỹ đạo thấp quanh Trái Đất cũng chỉ nhận ra trong điều kiện ánh sáng rất thuận lợi.
Vạn Lý Trường Thành tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là the Great Wall of China, hay ngắn gọn the Great Wall. Tiếng Trung hiện đại viết 万里长城, đọc Wànlǐ Chángchéng.