Vần cách là cách gieo vần mà hai dòng thơ hiệp vần với nhau không đứng sát nhau, thường cách ra một dòng ở giữa, phổ biến nhất là dòng 2 vần với dòng 4. Đây là kiểu đối lập với vần liền. Nhiều bạn còn hỏi “gieo vần cách là gì” hay “vần cách là vần gì”; câu trả lời gọn là: vần được đặt cách quãng, đọc xong một dòng khác vần rồi mới gặp lại âm cũ.
| Khái niệm | Vần gieo ở các dòng không liên tiếp, thường cách nhau một dòng |
| Thuộc | Cách phân loại vần theo khoảng cách giữa các dòng (cùng trục với vần liền) |
| Dấu hiệu nhận biết | Sơ đồ khổ bốn dòng có dạng ABAB hoặc xAxA |
| Nghĩa với người đọc | Có quãng nghỉ, nhịp thong thả, câu thơ như chờ nhau |
| Học ở | Ngữ văn 6, 7 (thơ bốn chữ, năm chữ); dùng lại khi phân tích thơ mới |

Vần cách: khi vần nhảy qua một dòng
Khi học thơ bốn chữ, năm chữ, sách Ngữ văn THCS chia cách gieo vần theo hai trục. Trục thứ nhất là vị trí trong dòng: vần chân ở cuối dòng, vần lưng ở giữa dòng. Trục thứ hai là khoảng cách giữa các dòng hiệp vần: liền nhau thì gọi là vần liền, cách quãng thì gọi là vần cách. Vần cách và vần liền vì thế luôn được học thành một cặp. Một bài thơ có thể vừa dùng vần liền vừa dùng vần cách; tài liệu hướng dẫn gọi trường hợp ấy là vần hỗn hợp.
Vì là hai trục khác nhau nên một cặp vần mang được cả hai tên. Tiếng cuối dòng 2 hiệp với tiếng cuối dòng 4 thì đó vừa là vần chân (xét vị trí) vừa là vần cách (xét khoảng cách). Nắm chỗ này, học sinh sẽ không còn lúng túng khi đề hỏi “bài thơ gieo vần gì”: nên trả lời đủ cả hai ý. Phần nền về vần chân, vần lưng có ở bài vần chân, vần lưng và cách nhận biết.
Vần cách cũng không đòi hai tiếng phải giống hệt nhau. Chỉ cần phần vần trùng hoặc gần nhau và cùng nhóm thanh (cùng bằng hoặc cùng trắc). Lặp lại nguyên một chữ thì là điệp, không tính là vần.
Ghi sơ đồ ABAB để bắt vần cách
Đọc lướt thì dễ bỏ sót, vì giữa hai tiếng hiệp vần có một dòng “lạ” chen vào. Cách chắc chắn nhất là làm theo ba bước:
- Chép tiếng cuối mỗi dòng thành một cột, đánh số từ trên xuống.
- Gán chữ cái: tiếng đầu tiên mang vần A; tiếng nào cùng vần cũng ghi A, vần mới ghi B, C. Tiếng không hiệp với ai thì ghi x.
- Nhìn khoảng cách giữa hai chữ giống nhau. Nếu giữa hai chữ A có đúng một chữ khác (A B A B, x A x A) thì đó là vần cách. Nếu hai chữ A đứng sát nhau (A A B B) thì đó là vần liền.
Thêm một mẹo nhỏ: với thơ bốn chữ, năm chữ hay thơ mới, dòng chẵn (2, 4, 6…) thường là nơi đặt vần cách, còn dòng lẻ hay kết bằng thanh trắc để tạo độ chênh. Thấy các dòng lẻ “lơ lửng” không vần với ai, hãy dò ngay dòng chẵn.
Vần cách trong Ông đồ, Tràng giang và Lượm
Khổ mở đầu bài Ông đồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Tiếng cuối dòng 2 (già) hiệp với tiếng cuối dòng 4 (qua), cùng vần “a”, cùng thanh bằng. Giữa chúng là dòng 3 kết bằng tiếng trắc đỏ. Sơ đồ là xAxA: vần cách, đồng thời là vần chân. Âm “a” mở, ngân dài ở cuối dòng chẵn làm khổ thơ có giọng kể chậm rãi, đúng không khí phố Tết ngày xưa. Câu hỏi đọc hiểu của văn bản có trong bài soạn bài Ông đồ Cánh diều.
Khổ thứ nhất bài Tràng giang
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Huy Cận để song và dòng hiệp vần “ong” ở dòng 2 và dòng 4. Dòng 1 và dòng 3 kết bằng hai tiếng trắc (điệp, ngả) không vần với nhau. Vần “ong” là vần bằng, âm khép lại trong miệng, đặt cách quãng nên đọc lên như con sóng đi rồi trở lại, hợp với nỗi buồn trải dài trên sông. Toàn bài được phân tích ở soạn bài Tràng giang của Huy Cận.
Bốn dòng đầu bài Lượm
Ở bài thơ bốn chữ của Tố Hữu học trong Ngữ văn 6, bốn dòng đầu kết bằng loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh. Dòng 1 hiệp với dòng 3 (vần “oắt”, trắc), dòng 2 hiệp với dòng 4 (vần “inh” và “ênh” gần nhau, bằng). Sơ đồ ABAB trọn vẹn: một khổ vần cách mẫu mực, đọc lên nghe như bước chân chú bé liên lạc nhảy nhót.
Đặt vần cách cạnh vần liền và vần ôm
| Tiêu chí | Vần cách | Vần liền | Vần ôm |
|---|---|---|---|
| Sơ đồ khổ bốn dòng | ABAB hoặc xAxA | AABB | ABBA |
| Khoảng cách | Cách một dòng | Sát nhau | Cặp ngoài cách hai dòng, cặp trong sát nhau |
| Nhịp đọc | Thong thả, có quãng chờ | Dồn, nhanh | Khép tròn khổ thơ |
| Ví dụ | Ông đồ, Tràng giang, Lượm | Đồng dao, vè | Một số bài thơ mới, thơ dịch |
Ba kiểu này hiếm khi đứng một mình suốt bài. Nhiều bài thơ năm chữ mở bằng một cặp vần liền rồi chuyển sang vần cách ở khổ sau. Khi phân tích, nên gọi tên từng cặp vần cụ thể thay vì dán một nhãn cho cả bài. Riêng kiểu đối lập trực tiếp với vần cách được giải thích ở bài vần liền gieo ở các dòng kề nhau.
Luyện tập nhận biết vần cách có đáp án
Câu 1: Vần cách khác vần liền ở điểm nào?
Đáp án: Khác ở khoảng cách giữa hai dòng hiệp vần. Vần liền gieo ở hai dòng kề nhau (sơ đồ AABB); vần cách gieo ở hai dòng không liên tiếp, thường cách một dòng (ABAB, xAxA).
Câu 2: Xác định cách gieo vần trong khổ thơ tự đặt: “Chiều về trên bãi / Gió thổi hiu hiu / Đàn trâu thong thả / Gặm ánh nắng chiều”.
Đáp án: Hiu (dòng 2) hiệp với chiều (dòng 4), vần “iu” và “iêu” gần nhau, cùng thanh bằng. Dòng 1 và 3 kết bằng tiếng trắc (bãi, thả) không vần với nhau. Sơ đồ xAxA, đây là vần cách.
Câu 3: Trong khổ “Sân trường nắng mới / Phượng đỏ thắm cành / Bạn bè gọi tới / Mắt cười long lanh”, hãy ghi sơ đồ vần.
Đáp án: Mới (dòng 1) hiệp với tới (dòng 3), vần “ơi”, thanh trắc; cành (dòng 2) hiệp với lanh (dòng 4), vần “anh”, thanh bằng. Sơ đồ ABAB, cả hai cặp đều là vần cách.
Câu 4: Sửa dòng cuối của khổ sau để có vần cách: “Mẹ đi làm sớm / Con dậy học bài / Ngoài hiên mưa rớt / Một mình con ngồi”.
Đáp án tham khảo: Bài (dòng 2) và ngồi (dòng 4) khác vần nên khổ thơ chưa có vần cách. Có thể sửa dòng 4 thành “Nhớ mẹ thương hoài”. Khi đó bài – hoài hiệp vần “ai”, cùng thanh bằng, cách nhau một dòng.
Câu 5: Vì sao nói cặp “già – qua” trong khổ đầu bài Ông đồ vừa là vần chân vừa là vần cách?
Đáp án: Xét vị trí, hai tiếng nằm ở cuối dòng nên là vần chân. Xét khoảng cách, chúng ở dòng 2 và dòng 4, giữa có dòng 3 chen vào, nên là vần cách. Hai tên gọi thuộc hai cách phân loại khác nhau, không loại trừ nhau.
Gieo vần cách khi tự làm thơ
Gieo vần cách là gì?
Là khi viết, ta chủ động cho tiếng cuối của hai dòng không liền nhau hiệp vần, thường là dòng 2 với dòng 4. Dòng 1 và dòng 3 có thể để tự do hoặc cũng cho hiệp với nhau thành ABAB.
Vần cách là vần gì, vần chân hay vần lưng?
Vần cách không phải tên của một vị trí trong dòng. Trong thơ bốn, năm chữ và thơ mới, vần cách thường nằm cuối dòng nên đồng thời là vần chân.
Bài thơ bốn chữ có bắt buộc phải gieo vần cách không?
Không bắt buộc. Thơ bốn chữ có thể gieo vần liền, vần cách hoặc kết hợp cả hai. Khi tập viết, gợi ý gieo vần cách ở dòng chẵn vì dễ làm mà vẫn giữ được nhạc; xem thêm dàn ý tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ.
Có cần hai tiếng hiệp vần cách giống hệt nhau không?
Không. Chỉ cần phần vần giống hoặc gần nhau và cùng nhóm thanh, như hiu – chiều, xinh – nghênh. Hai tiếng giống hệt nhau là điệp từ.